Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2016

Tìm hiểu về vấn đề “Trung Quốc tiến”

Cụ thể, những sản phẩm thuyền buồm trang trí, TQ hiện chỉ sản xuất bằng máy nên sản phẩm không tinh xảo, không có kích thước lớn..., trong khi các “đại gia” TQ, những người sở hữu biệt thự lớn, sang trọng lại cần những sản phẩm này. Nhờ vậy, Thiên Thương có thể đưa hàng sang TQ, với mức độ “phủ sóng” từ Bắc Kinh, Thượng Hải đến Macau, Đài Loan...
Khoảng trống dành riêng
Hội chợ ở Hồng Kông là cửa ngõ cho hàng Việt Nam xuất khẩu vào Trung Quốc
Năm 2009, TQ không nằm trong danh sách quốc gia xuất khẩu của công ty Thiên Thương. Thương nhân TQ sang, thăm showroom và tự đánh hàng về theo đường tiểu ngạch. Bất ngờ, năm 2010-2011, thị trường TQ đã chiếm khoảng 12% đơn hàng xuất khẩu của Thiên Hương.
“TQ dù có rất nhiều DN quốc tế lẫn bản địa tham gia, vẫn có những khoảng trống dành riêng cho Việt Nam”, ông Vương Đình Sắc, Giám đốc Công ty Thiên Hương, tự tin khẳng định như vậy. Trong điều kiện nhân công TQ tăng giá như hiện nay, theo ông Sắc, khối ngành nghề thủ công mỹ nghệ cần nhiều lao động và lao động tỉ mỉ để có thể tạo nên các sản phẩm tinh xảo... Việt Nam đang vượt trội hơn TQ.
Cụ thể, những sản phẩm thuyền buồm trang trí, TQ hiện chỉ sản xuất bằng máy nên sản phẩm không tinh xảo, không có kích thước lớn..., trong khi các “đại gia” TQ, những người sở hữu biệt thự lớn, sang trọng lại cần những sản phẩm này. Nhờ vậy, Thiên Thương có thể đưa hàng sang TQ, với mức độ “phủ sóng” từ Bắc Kinh, Thượng Hải đến Macau, Đài Loan...
“Nếu như chịu tìm kiếm, vẫn có đất hứa ngay trong lòng ông lớn” ấy dành cho DN Việt Nam”, ông Trần Việt Tiến, Giám đốc Công ty Gia Long, nhận định.
Theo ông Tiến, tiêu dùng tại các nước giảm trong khi tiêu dùng tại TQ lại tăng do gần đây tiền lương nhân công của TQ tăng nhanh. Điều này đã giúp các DN TQ yên tâm về mặt đầu ra, nhưng đồng thời tốc độ phát triển kinh tế TQ sẽ chậm lại do các chi phí đầu vào của DN tăng. Đó chính là lợi thế của DN Việt Nam.
Theo ông Điền Quang Hiệp, Chủ tịch HĐQT, Giám đốc MIFACO, do yếu tố lịch sử, ảnh hưởng từ các tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa từ phương Tây mà các DN Việt Nam vẫn đề cao yếu tố chất lượng.
Thế nên, dù giá thành không cạnh tranh được với TQ, nhưng các quy chuẩn chất lượng thì Việt Nam hơn hẳn. Điều này đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng ngày một cao hơn của người TQ.
Bên cạnh đó, nếu chỉ xét trong ngành gỗ, trang trí nội thất, các mặt hàng của TQ vẫn nặng truyền thống rồng phụng trong khi phong cách sản xuất của DN Việt Nam lại rất “Tây” nên dễ dàng chinh phục được những khách hàng TQ vốn đã quen mắt với sản phẩm nội địa.
Không thành củi giữa rừng
Cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu Việt Nam với Trung Quốc
Sự tự tin của DN Việt Nam nếu đối chiếu với sự áp đảo về hàng hóa trên cán cân giao thương giữa Việt Nam và TQ rất có thể không được đồng tình. Xét lại, năm 2010, Việt Nam đã xuất khẩu 7,3 tỷ USD sang thị trường TQ, chiếm 10,1% trong tổng kim ngạch của cả nước.
Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường TQ trong quý I/2011 là 2,1 tỷ USD, tăng 52,41% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ riêng trong tháng 7, xuất khẩu sang TQ đạt 960 triệu USD, tăng khoảng 15% so với tháng 6. Đối lập với bức tranh này là cơn bão nhập siêu từ TQ.
Năm 2010, nhập siêu từ TQ đạt 12,6 tỷ USD, bằng 105% mức nhập siêu của Việt Nam trong cả năm. Tính riêng trong tháng 7, giá trị hàng hóa nhập từ TQ lên đến 1,9 tỷ USD, chiếm 23% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.
Bên cạnh đó, xuất khẩu sang TQ của DN Việt Nam cũng chỉ dừng lại ở nguồn nguyên liệu thô. Cụ thể, năm 2010, Việt Nam đã xuất khẩu 32 chủng loại mặt hàng sang thị trường TQ. Trong đó chủ yếu là cao su, có kim ngạch đạt 1,4 tỷ USD, với 464,3 nghìn tấn.
Mặt hàng có kim ngạch đứng thứ hai là than đá, với 14,6 triệu tấn, đạt trị giá 961,8 triệu USD, chiếm 13,1% trong tổng kim ngạch. Ngoài ra còn có quặng và khoáng sản, sản phẩm gốm sứ, nguyên liệu nông sản như sắn, điều...
“Việt Nam chỉ xuất khẩu nguyên liệu thô sang TQ. Các sản phẩm này không mang lại giá trị thặng dư cho người Việt”, bà Vũ Kim Hạnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ doanh nghiệp (BSA), nhận xét.
Không ít ý kiến cho rằng, nếu Việt Nam chỉ dựa mãi vào ngành nông lâm thủy sản giá trị thấp để xuất khẩu sang TQ thì bao giờ mới rút ngắn khoảng cách nhập siêu.
“Khó nhưng không phải là không thể. Nếu cạnh tranh lành mạnh, hàng Việt Nam chất lượng cao hoàn toàn có thể cạnh tranh với hàng TQ. DN Việt Nam vẫn có thể xuất khẩu các mặt hàng có giá trị cao sang TQ chứ không chỉ là nguyên liệu thô”, ông Nguyễn Hữu Duy, Giám đốc Edena, khẳng định.
Đồng quan điểm với ông Duy, các DN thành viên Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (HAWA) cũng đang rất tâm huyết với việc sang TQ tìm thị trường. Dự kiến, tháng 10 tới sẽ là thời điểm khoảng 10 DN “đổ bộ” sang Phật Sơn, Quảng Đông, TQ trưng bày và tìm kiếm khách hàng.
Mức độ đầu tư cho lần “TQ tiến” này lên đến 11 tỷ đồng, chưa kể giá trị hàng hóa, thu từ nguồn đóng góp theo hình thức cổ phần của các DN tham gia.
Theo ông Điền Quang Hiệp, dù khách hàng có nhu cầu, nhưng việc phát triển tiêu thụ hàng Việt Nam tại TQ cũng không hề đơn giản. “Với thị trường nội địa, TQ không có trung tâm phân phối, chỉ có những chợ, trung tâm nhỏ... nên điều kiện để DN Việt Nam sang tiếp cận khách hàng cũng hết sức khó khăn”, ông Hiệp chia sẻ.
Ông Hiệp cho biết thêm, DN gỗ Việt Nam vốn quen với sự sòng phẳng trong thanh toán, giao dịch với khách hàng châu Âu, Mỹ... nên khá khó chịu với các thương nhân TQ trong vấn đề thanh toán.
Ngoài ra, do không có tiến trình nhập hàng theo từng quý, từng năm như các đối tác châu Âu, DN TQ thường đợi gần hết hàng mới đặt đơn hàng mới, nên DN Việt Nam dễ rơi vào thế bị động, có đơn hàng là phải dốc sức làm để kịp tiến độ thời gian.
Lấy kinh nghiệm bản thân Công ty Thiên Hương, ông Vương Đình Sắc cho biết, để lấy được hợp đồng xuất khẩu hàng sang TQ, Thiên Hương đã phải tận dụng các hội chợ tại Hồng Kông để tiếp xúc với đối tác, chứng minh tiềm lực và giới thiệu sản phẩm của mình...
Quá trình này cũng mất khá nhiều thời gian. “DN Việt Nam phải mất ít nhất 3 năm tham dự các triển lãm quốc tế tổ chức tại Hồng Kông, TQ. Lần thứ nhất, đối tác chỉ tham quan gian hàng, lần thứ hai đến hỏi thông tin, đến lần thứ ba mới quyết định có giao dịch hay không.
Mỗi năm, chi phí tham dự triển lãm cho một gian hàng nhỏ lên đến gần 10.000USD. Điều này buộc DN phải thực sự có lực và có khả năng tồn tại trong thời gian dài mới có cơ may được các DN TQ chú ý và tiến đến tiến hành giao dịch”, ông Sắc chia sẻ.  

Tìm lời giải cho: Bao giờ không phải là “lộc trời”?

Theo đánh giá của các chuyên gia, Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng có đầy đủ tiềm năng để phát triển ngành nuôi yến mang lại lợi nhuận cao, giá trị xuất khẩu lớn và hỗ trợ phát triển nông nghiệp. Tuy đầu tư lớn nhưng đầu ra cũng rất khả quan, nhu cầu về các sản phẩm từ tổ yến trên thị trường thế giới ngày càng lớn, giá mặt hàng này cũng rất cao.
Diễn giả tham dự hội thảo - Ảnh: Quý Hòa
Nuôi chim yến vừa hướng tới cơ hội trở thành một ngành công nghiệp mới mẻ, vừa đặt ra nhiều vấn đề về quản lý và đầu tư. Hội thảo với chủ đề “Chim yến: nguồn lợi không tự nhiên mà có!” do Báo Doanh Nhân Sài Gòn phối hợp cùng Hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM (Huba) và Ban Chỉ đạo Nông nghiệp-Nông thôn TP.HCM tổ chức, có thêm nhiều câu trả lời cho các nhà đầu tư nuôi chim yến.
Một vốn bốn lời
Điển hình, dự án nhà nuôi yến thí điểm (gồm 3 căn liên kế) của Công ty TNHH Yến Đất Việt (Yến Đất Việt) tại ấp An Hòa, xã Tam Thôn Hiệp, huyện Cần Giờ, xây dựng cách đây vài năm, với mức chi phí (bao gồm xây dựng và lắp đặt hệ thống máy phun sương, đo nhiệt độ, âm thanh...) khoảng từ 1,5 tỷ đồng/mỗi căn với ý định “nuôi thử”.
Song, đến nay, thành công đã vượt ra ngoài sự mong đợi, nhà yến cho khoảng 45kg tổ yến/mỗi tháng, với giá bán trung bình từ 37 - 45 triệu đồng/kg.
Như vậy, chỉ cần thu hoạch 4 tháng, Yến Đất Việt đã có thể lấy lại vốn đầu tư. Theo đó, đến nay, sau hơn mấy năm triển khai dự án này, trị giá của việc “làm chơi, ăn thiệt” của Yến Đất Việt đã đạt đến con số trên 100 tỷ đồng.
Ông Phạm Trọng Đức, Phó trưởng Phòng Kinh tế huyện Cần Giờ, TP.HCM, cho biết, trong phạm vi đề án nuôi thí điểm chim yến tại huyện Cần Giờ cho thấy tỷ lệ thành công rất cao.
Riêng năm 2010, huyện Cần Giờ thu được 400kg/101 căn. Giá thị trường khoảng 35 triệu đồng/kg yến thô, mang đến tổng trị giá tổ yến của Cần Giờ đạt khoảng 14 tỷ đồng.
Theo đánh giá của các chuyên gia, Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng có đầy đủ tiềm năng để phát triển ngành nuôi yến mang lại lợi nhuận cao, giá trị xuất khẩu lớn và hỗ trợ phát triển nông nghiệp. Tuy đầu tư lớn nhưng đầu ra cũng rất khả quan, nhu cầu về các sản phẩm từ tổ yến trên thị trường thế giới ngày càng lớn, giá mặt hàng này cũng rất cao.
Hiện nay, một kg yến thông thường có giá trung bình khoảng 40 triệu đồng, yến huyết có giá từ 60-90 triệu đồng. So với các nước đang đứng nhất nhì thế giới về nguồn tổ yến như Indonesia, Thái Lan hay Malaysia, thì trị giá của tổ yến Việt Nam lại cao hơn bởi có độ thơm tự nhiên từ tinh chất của yến.
Đi tìm mô hình bền vững
Không chỉ tại Cần Giờ, nhiều nhà đầu tư đã triển khai dự án nhà nuôi chim yến ở khắp các tỉnh khu vực Đông Nam bộ như: Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Phú Yên, Quy Nhơn (Bình Định), Ninh Thuận, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu, (Cần Giờ) TP HCM, Tiền Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang...Mặc dù vậy, cũng có không ít nhà đầu tư buộc “bỏ của chạy lấy người” vì không có kết quả.
TS. Lê Võ Định Tường, Viện Công nghệ Hóa học thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết đến nay, nghề nuôi chim yến không còn dựa vào yếu tố may rủi mà phụ thuộc phần lớn vào kỹ thuật nên xu hướng thành công là khá cao nếu biết tận dụng.
Đồng tình với nhận định trên, ông Nguyễn Tất Hữu, Giám đốc Điều hành Công ty TNHH Viễn thông Trọng Nhân, hiện đang sở hữu 5 nhà nuôi yến trên địa bàn tỉnh Bình Định và Huyện Cần Giờ, TP.HCM cho biết, yếu tố kỹ thuật khá quan trọng, quyết định sự thành công của nuôi chim yến và điều kiện tiên quyết là vùng có chim yến cư ngụ.
Tuy nhiên, hoạt động nuôi yến nhà tại Việt Nam còn mang tính tự phát, chưa được định hướng phát triển cụ thể khiến nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn vì thiếu thông tin, chính sách và hỗ trợ kỹ thuật. Cụ thể như: giấy phép xây dựng nhà nuôi yến, phương thức đánh thuế, quy hoạch khu vực nuôi, vệ sinh môi trường...
Ngay tại hội thảo, các đại biểu, chuyên gia, nhà đầu tư cũng đồng loạt kiến nghị với các Sở, ban, ngành có liên quan sớm có những hỗ trợ, định hướng để ngành nuôi chim yến phát triển.
Theo đó, các đại biểu cũng đưa ra đề nghị thành lập hiệp hội của nghề nuôi chim yến, tạo đầu mối hỗ trợ kỹ thuật, thông tin cũng như vốn cho những doanh nghiệp muốn đầu tư vào lĩnh vực này. Trong việc quy hoạch vùng nuôi, yếu tố cân bằng sinh học và bảo vệ môi trường sống cần phải được chú trọng.
“Lời khuyên của tôi là chúng ta không nên phát triển nghề nuôi chim yến tại nội thành mà nên nuôi chim yến ở những khu ngoại thành, như Cần Giờ chẳng han. Ở đó có những điều kiện tốt như có sông ngòi, cây cối... Đó là việc làm cần thiết để chúng ta bảo vệ môi trường sống”, PGS.TS Nguyễn Khoa Diệu Thu, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam nói.

Cùng tìm hiểu về việc chen chân giữa các “ông lớn”

FTA là một đại diện sáng nhất cho công ty NCTT nội địa với 10 năm kinh nghiệm. Ông Tường Tuấn Thông, Chủ tịch HĐQT, cho rằng công ty của mình nằm trong top 5 NCTT hiện nay. Nhưng theo đánh giá của chính các công ty NCTT, FTA hiện xếp thứ 3 sau Kantar TNS và AC Neilsen, chiếm trên 10% thị phần.
Thách thức từ thế hệ thứ hai
Đầu năm 1990, khái niệm NCTT còn xa lạ đối với doanh nghiệp (DN) Việt nam. Cho đến đầu năm 1994, AC Nielsen xuất hiện và tiếp đó là TNS, 2 công ty hàng đầu (và chỉ có 2) hoạt động tại thị trường Việt Nam, dần dần định hướng khái niệm NCTT. Ban đầu, 2 công ty này chỉ cung cấp dịch vụ cho các công ty cùng “đẳng cấp” là các công ty đa quốc gia khác.
Với vốn lớn, kinh nghiệm và kiến thức toàn cầu, TNS, AC Nielsen hầu như là lựa chọn hàng đầu cho các khách hàng tại thị trường Việt Nam.
Không những thế, những công ty đa quốc gia đầu tư vào Việt Nam thường phải ký hợp đồng với một trong hai “ông lớn” này theo thỏa thuận vùng hoặc toàn cầu từ hai công ty mẹ. Chính vì vậy, Unilever, P&G, Coca-Cola, Pepsi... không lựa chọn công ty NCTT nào khác ngoài hai cái tên quen thuộc kia.
Thị phần của Kantar TNS đào tạo bài bản và chuyên nghiệp bởi những chuyên gia NCTT thế hệ trước, những nhân viên Việt Nam, đặt ra những tham vọng lớn hơn: tham gia vào phòng NCTT của những công ty vốn là khách hàng của cả AC Nielsen và Kantar TNS, hoặc là tự mình thành lập công ty NCTT.
Lựa chọn số 2 này tạo ra một làn sóng những công ty NCTT Việt Nam với mục tiêu “giá rẻ hơn, chất lượng (được cam kết) sẽ tốt hơn, lớn nhỏ gì cũng làm, và làm trong thời gian nhanh nhất có thể”.
FTA là một đại diện sáng nhất cho công ty NCTT nội địa với 10 năm kinh nghiệm. Ông Tường Tuấn Thông, Chủ tịch HĐQT, cho rằng công ty của mình nằm trong top 5 NCTT hiện nay. Nhưng theo đánh giá của chính các công ty NCTT, FTA hiện xếp thứ 3 sau Kantar TNS và AC Neilsen, chiếm trên 10% thị phần.
Vốn làm việc nhiều năm tại AC Nielsen Việt Nam, cùng với 3 đồng sự, ông Thông ra riêng thành lập FTA với vốn kiến thức hiểu và đáp ứng các tiêu chuẩn của khách hàng quốc tế.
Chính vì vậy, thời gian đầu thành lập, chủ yếu khách hàng của công ty là các DN nước ngoài. Và sau một thời gian, ngoài việc có thêm những khách hàng là những DN lớn trong nước, như: Masan, Kinh Đô, Vinamilk... FTA đã chiếm được khá nhiều công ty đa quốc gia lớn: Unilever, P&G, Honda, Toyota...
Thậm chí, gần đây FTA còn “hớt” được hợp đồng NCTT trọn gói của một công ty bia lớn của thế giới muốn tung sản phẩm mới tại Việt Nam. Được biết, thời gian nghiên cứu cho sản phẩm này kéo dài trong vòng 1 năm, chi phí trên 500 ngàn USD.
Với sự xuất hiện gần như đồng loạt của những công ty vừa và nhỏ, cộng với sự lớn mạnh của những công ty lớn Việt Nam từ những năm 2005, vai trò của các NCTT nhỏ bỗng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Như một quy tắc bất thành văn, các khách hàng lớn luôn theo một công thức khi chọn nhà thầu NCTT là lấy báo giá từ 2 công ty đa quốc gia và 1 công ty Việt Nam.
Nếu chứng minh được năng lực và có uy tín cộng với thời gian hoàn thành, chi phí hợp lý, các công ty Việt Nam sẽ có khả năng được chọn mà không bị vấp phải quá nhiều những khó khăn về tính “địa phương” như những năm trước đó.
Cùng với sự lớn mạnh của các công ty trong nước là sự xuất hiện thêm của hàng loạt những công ty NCTT đa quốc gia khác. Ông Richard Burrage, Giám đốc Công ty NCTT Cimigo cho biết, ngành NCTT đang tăng trưởng mạnh ở mức trung bình 20% hàng năm trong vòng 5 năm qua. Số lượng công ty NCTT trong và ngoài nước tăng gấp ba lần.
Cimigo đã có mặt tại thị trường Việt Nam 10 năm qua. Đây chính là một trong những đối trọng quốc tế của Kantar TNS và AC Nielsen. Richard cho tiết, tính toàn bộ thị trường nghiên cứu, Cimigo hiện chiếm khoảng 8%.
Còn tính riêng phân khúc mà công ty đang đi sâu vào là tập trung hỗ trợ khách hàng phát triển và thực hiện các chiến lược về thương hiệu lẫn truyền thông cho công nghệ, tài chính, sức khỏe, thì phải là 21%.
“Quyền chi phối” chuyển động
Nếu xét về vị trí trên thế giới, AC Nielsen đứng số 1 vì nắm thế mạnh tại thị trường Mỹ. Thế nhưng, xếp hạng này đã thay đổi từ khi TNS sáp nhập vào Kantar Group năm 2010.
Sau sáp nhập, Kantar Group định vị TNS Research International tập trung vào nghiên cứu thị hiếu người tiêu dùng. Còn mảng nghiên cứu hành vi người tiêu dùng thì lấy tên công ty mẹ là Kantar Worldpanel. Theo tính toán, Kantar cộng với TNS đã chiếm hơn 30% thị phần, tức là có lớn hơn AC Nielsen một chút.
Ông Nguyễn Huy Hoàng, Giám đốc Khách hàng Kantar Worldpanel Vietnam, cho biết, Kantar Worldpanel Việt Nam sẽ tập trung vào nghiên cứu hành vi người tiêu dùng, nhưng vẫn phát triển sang nghiên cứu thị hiếu.
Theo ông Hoàng, hiện các công ty NCTT tập trung cạnh tranh ở phân khúc nghiên cứu thị hiếu: tại sao người tiêu dùng mua sản phẩm này mà không mua sản phẩm kia? Bởi ngân sách dành cho nghiên cứu hành vi đã quá chật, chỉ còn chờ giành được ngân sách nghiên cứu thị hiếu của các công ty.
Nằm trong top 3 và là công ty Việt Nam có thị phần lớn nhất nhưng FTA đang ấp ủ một thay đổi lớn. Theo thông tin nắm được, nối tiếp bước đi của TNS, FTA đã gần như hoàn tất việc bán một lượng lớn cổ phần cho một đối tác Nhật.
Đây là một công ty NCTT lớn nhất của Nhật, là đối tác của FTA trong nhiều năm qua. Chính thông qua công ty này, FTA hầu như đã hút được phần lớn lượng DN Nhật đang làm ăn tại Việt Nam. Việc hợp tác này ngoài chuyện thu về vài triệu USD, FTA sẽ được đầu tư mạnh mẽ về công nghệ từ đối tác Nhật Bản.
Một bước tiến có thể coi là mạnh bạo nữa của FTA là việc đã tiến hành lập văn phòng tại Campuchia vì có nhu cầu đặt hàng của các DN Việt Nam và trong khu vực. Ông Thông giải thích, khách hàng muốn nghiên cứu thị trường Đông Dương, nhưng họ chỉ muốn liên hệ với một đầu mối, chứ không phải mỗi thị trường lại nhờ đến một công ty.
Tại Lào, FTA chưa có văn phòng nhưng cũng có đội ngũ riêng tại đó khi cần tác nghiệp. Trong kế hoạch, có thể năm tới công ty sẽ mở văn phòng tại Myanmar, ông Thông nói.
Có một câu chuyện cho thấy sự dịch chuyển trong lĩnh vực NCTT là vào năm 1993, AC Nielsen tiến hành làm chương trình nhật ký tivi, tức là gắn một bộ phận ghi nhận lại các chương trình trên truyền hình. Nhưng sau 2 năm, bộ phận thực hiện chương trình này chuyển sang TNS.

Chia sẻ với bạn về đồng tiền khôn của doanh nghiệp nội

Nhận định về những nguyên nhân thành công, thất bại trái chiều như trên, quản lý của công ty NCTT làm khảo sát sản phẩm trà xanh của Tân Hiệp Phát cho rằng, sau khi có kết quả nghiên cứu như vậy, công ty không đề nghị phía Tân Hiệp Phát hủy bỏ kế hoạch, mà chỉ kiến nghị nên từ từ làm, cho đúng với thời điểm.
Nhiều nhưng còn “nhát”
Doanh số của ngành NCTT Việt Nam hiện ở mức trên dưới 40 triệu USD, tính ra mức chi tính trên đầu người chỉ khoảng 0,5 USD/người. Như vậy, so với các nước trong khu vực, mức chi cho NCTT còn khá thấp, khi Thái Lan chi gần 100 triệu USD/năm, Philippines chi trên 80 triệu USD...
Theo lý giải, một phần nguyên nhân là do các công ty trong nước vẫn chưa chịu chi mạnh tay cho NCTT.
Ông Nguyễn Huy Hoàng cho biết, doanh thu từ khách hàng Việt Nam của Kantar Worldpanel chỉ dưới 10%. Phần lớn vẫn là các DN có tên tuổi như: Vinamilk, Masan, Kinh Đô, Tân Hiệp Phát...
Nhưng tính ra, chi phí NCTT của các DN này vẫn chỉ chiếm một phần rất nhỏ của doanh thu. Quản lý của một công ty NCTT cho biết, mức chi dành cho NCTT của các công ty lớn của Việt Nam chỉ chiếm 3 - 4% ngân sách dành cho marketing.
Các tên tuổi như Kinh Đô, Vinamilk, Masan chỉ bỏ ra ước chừng 1 triệu USD mỗi năm. Trong khi đó, theo ông Hoàng, con số lý tưởng với ngành NCTT là mức chi 4 -5% doanh thu của DN. Đây chính là mức chi trung bình của các công ty quốc tế.
Ông Richard cho biết, Cimigo hiện cứ 10 khách hàng của Cimigo thì 3 là công ty nội địa. Sử dụng NCTT ngày nay không còn là của riêng các tập đoàn đa quốc gia hay các công ty lớn, mà ngay cả công ty vừa và nhỏ cũng có thể sử dụng bằng cách xoáy sâu vào những mục tiêu nghiên cứu cụ thể, chấp nhận một mức tin cậy của số liệu vừa phải (như 90% thay vì 95%...).
Ông Trần Hùng Thiện, Giám đốc Công ty NCTT Gcomm, cho biết, công ty chủ động chọn đối tượng khách hàng là DN vừa và nhỏ, thường không đủ ngân sách để trả cho những dự án NCTT lớn.
“Chúng tôi không nuôi bộ máy cồng kềnh, chỉ có 8 - 20 người thường trực, còn lại là cộng tác với lực lượng sinh viên. Nhưng mẫu khảo sát mà chúng tôi làm cho khách hàng vẫn sẽ không thu hẹp, mà chỉ tập chung làm đúng những yêu cầu cần thiết của khách hàng, tránh đi những “râu ria” không cần thiết, và sai số đưa ra cũng chỉ ở mức 3-5%, tùy thuộc thỏa thuận với khách hàng”, ông Thiện cho biết.
Sau 2 tháng thành lập, hiện Gcomm có 3 khách hàng. Theo tính toán, năm đầu hoạt động, công ty cần có doanh thu 4 - 5 tỷ đồng.
Đồng tiền đi trước
Sự nhận biết về NCTT của các DN Việt Nam vẫn đang còn quá nhiều mâu thuẫn. Nhiều DN coi việc thuê NCTT là... mốt, để bằng anh bằng em với các công ty đa quốc gia.
Có DN lại đặt quá nhiều kỳ vọng vào công ty NCTT, coi đây là cây đũa thần, có thể biết hết mọi thứ, có thể nhanh chóng giúp công ty thành công... Thế nhưng, thực tế đôi khi rất phức tạp.
Năm 2007, Công ty Tân Hiệp Phát thuê NCTT về kế hoạch tung ra sản phẩm trà xanh đóng chai. Kết quả nghiên cứu cho thấy kế hoạch này không có hiệu quả.
Bởi trong khi một ly trà đá bán ngoài quán chỉ có giá 2.000 đồng, thì 1 chai trà xanh giá 5.000 đồng sẽ khó được người tiêu dùng lựa chọn. Nhưng cuối cùng Tân Hiệp Phát vẫn quyết định làm và đã thành công rực rỡ.
Thế nhưng Tân Hiệp Phát cũng từng phải trả giá về chuyện “cãi lời nghiên cứu”. Ban đầu phải kể tới nhãn hiệu bia Lazer. Công ty NCTT sau khảo sát cũng cho rằng người tiêu dùng Việt Nam chưa quen với kiểu uống bia tươi đóng chai.
Lâu nay họ quen với việc uống bia hơi đổ ra từ bình. Rồi Tân Hiệp Phát vẫn làm, kết quả là Lazer bị bia Heineken, Tiger đánh cho tơi tả. Hoặc gần đây nhất là vụ trà Barley giảm béo mà Tân Hiệp Phát kỳ vọng sẽ là sản phẩm trà thế hệ thứ hai thành công sau Trà xanh đóng chai.
Thế nhưng, Tân Hiệp Phát quên đi một điều rằng, người tiêu dùng không hề tin rằng có loại trà làm giảm béo, may ra chỉ có thuốc mới có thể giúp giảm béo...
Nhận định về những nguyên nhân thành công, thất bại trái chiều như trên, quản lý của công ty NCTT làm khảo sát sản phẩm trà xanh của Tân Hiệp Phát cho rằng, sau khi có kết quả nghiên cứu như vậy, công ty không đề nghị phía Tân Hiệp Phát hủy bỏ kế hoạch, mà chỉ kiến nghị nên từ từ làm, cho đúng với thời điểm.
Hơn nữa, trước đó, chính Pepsi cũng đã đưa ra kế hoạch phát triển sản phẩm trà xanh đóng chai, nhưng còn chần chừ chờ quyết định từ công ty mẹ tại Mỹ.
Vị quản lý này cho rằng, sự “liều lĩnh” của Tân Hiệp Phát đã đem lại thành công. Và cũng do là công ty địa phương, nên quyết định của Tân Hiệp Phát đã nhanh hơn Pepsi vốn luôn phải trông chờ vào quyết định từ tập đoàn.
Một điểm mới được nhận ra ở một số công ty lớn của Việt Nam như Vinamilk, Kinh Đô, Masan... là các công ty này đều đã có riêng một phòng NCTT.
Đây là cách làm từ khá lâu của các công ty đa quốc gia. Họ không chỉ lấy thông tin từ một nguồn mà còn kết hợp với kết quả khảo sát từ nhiều công ty NCTT khác nhau và tự xây dựng thêm đội ngũ NCTT để kiểm tra chéo lại thông tin một lần nữa.
Trong khi đó, các công ty nhỏ, vốn rất cần những thông tin chính xác, đầy đủ để đưa ra quyết định chiến lược thì hầu như lại rất e dè trong việc chi cho NCTT, dẫn đến kết quả là ngân sách vốn đã hạn hẹp lại được sử dụng dàn trải và không hiệu quả. 

Chia sẻ cùng bạn hình thức kinh doanh bán lẻ: Vừa bán vừa cho mới đắt hàng

Cũng trong tình trạng này, bà Nguyễn Thanh Hải, Giám đốc siêu thị Hà Nội, cho biết, do sức mua đang giảm mà các chi phí cho kinh doanh như điện, nước, lương nhân viên đều tăng nên lợi nhuận của siêu thị ngày càng giảm. Hiện, mức lãi bình quân những tháng gần đây chỉ đạt khoảng 3 - 5%. Mức lãi này chủ yếu nhờ các nhà cung cấp cho trả chậm, cho gối đầu.
Dù đã vào tháng 8 nhưng sức mua tại hầu hết các chợ cũng như các trung tâm thương mại vẫn ì ạch, buộc các nhà kinh doanh phải nghĩ ra nhiều “chiêu” để hút khách.
Năm tồi tệ!
Sức mua trên thị trường giảm mạnh - Ảnh: Thi Na
Sức mua giảm là tình hình chung ở các chợ, trung tâm mua sắm tại TP.HCM từ nhiều tháng nay. Chính vì vậy, thị trường đã chứng kiến sự “ra đi” của không ít trung tâm bán lẻ, đặc biệt là trong lĩnh vực điện máy.
Theo giới kinh doanh ngành hàng điện máy, công nghệ thông tin, điện thoại di động tại TP.HCM, 2011 là năm kinh doanh tồi tệ nhất đối với họ! Thông tin từ một trung tâm kinh doanh điện máy lớn tại TP.HCM cho hay, sức mua hiện đã giảm 20 - 40% so với đầu năm, trong đó, hàng điện lạnh giảm mạnh nhất.
Còn theo ông Nguyễn Minh Thư, Phó tổng giám đốc Trung tâm Điện máy Thiên Hòa, kinh doanh ngành điện máy đang rất khó khăn vì doanh số giảm mạnh. Hiện nay, lợi nhuận từ kinh doanh hàng điện máy, điện tử, công nghệ thông tin... đã giảm đến 50% so với trước đây. Để tồn tại, nhà kinh doanh phải tìm mọi cách để tăng doanh thu và cắt giảm chi phí.
Cũng trong tình trạng này, bà Nguyễn Thanh Hải, Giám đốc siêu thị Hà Nội, cho biết, do sức mua đang giảm mà các chi phí cho kinh doanh như điện, nước, lương nhân viên đều tăng nên lợi nhuận của siêu thị ngày càng giảm. Hiện, mức lãi bình quân những tháng gần đây chỉ đạt khoảng 3 - 5%. Mức lãi này chủ yếu nhờ các nhà cung cấp cho trả chậm, cho gối đầu.
Không chỉ có điện máy, doanh thu của các ngành hàng thiết yếu cũng sụt giảm nghiêm trọng. Trong đó, hàng may mặc tiêu thụ rất chậm.
Bà Bùi Hạnh Thu, Phó tổng giám đốc Saigon Co.op, cho biết, hiện nay, doanh thu ngành may mặc của hệ thống siêu thị Co.opMart chỉ tăng khoảng 20% so với cùng kỳ.
Tuy có tăng trưởng nhưng theo bà Hạnh Thu, nếu trừ ra các yếu tố tăng giá và số lượng các siêu thị mới mở thêm thì coi như doanh số không tăng. Riêng các mặt hàng phục vụ học sinh như: cặp táp, túi xách, tập vở, bút viết, đồng phục học sinh chỉ tiêu thụ hơn 50% lượng hàng.
Siêu thị sụt giảm doanh số thì các chợ truyền thống còn khó khăn hơn rất nhiều. Tại các chợ, chỉ có ngành hàng thực phẩm vẫn còn “ăn nên làm ra” vì đây là nhu cầu không thể thiếu của mọi gia đình.
Không có thống kê chính thức nhưng tiểu thương các ngành hàng vải sợi - may mặc, công nghệ phẩm, giày dép, thủ công mỹ nghệ... ở các chợ đều nhận định sức mua đã giảm đến gần một nửa so với năm trước.
Tại nhiều chợ như Văn Thánh, Bà Chiểu, Tân Định... dù vào giờ cao điểm mua sắm trong ngày cũng không tránh khỏi tình trạng người bán đông hơn người mua.
Bà Lý Thanh Thương, tiểu thương kinh doanh vải sợi tại chợ Hòa Hưng (Q.10), than thở: “Chưa có năm nào buôn bán ế ẩm như năm nay. Có khi cả ngày chẳng bán được xấp vải nào nhưng đã lỡ theo nghiệp mua bán cả chục năm nay, bỏ thì không nỡ, đành chỉ biết chờ vào những tháng cuối năm”.
Chợ bán lẻ đã thế, các chợ đầu mối cũng không hơn gì. Dù lượng hàng về các chợ Bình Điền, Thủ Đức vẫn ổn định, nhưng sức mua giảm nhiều so với trước.
Để giúp tiểu thương giải quyết khó khăn, Ban quản lý chợ đầu mối Thủ Đức đành phải tăng thời gian mở cửa chợ. Trước đây, khoảng 7 giờ sáng chợ đã “tan tầm”, nhưng nay đến 10 giờ vẫn còn mở cửa. Thế nhưng, nhiều vựa hàng vẫn không bán hết hàng, đành phải “thanh lý hàng tồn” với giá rẻ, thậm chí không ít vựa phải đổ bỏ.
Hai nhà cùng tốn
Trước tình hình khó khăn này, các nhà kinh doanh phải nỗ lực tìm đường thoát bằng nhiều hình thức. Trong đó, khuyến mãi là cách được hầu hết nhà kinh doanh lựa chọn.
Khuyến mãi nhiều nhất hiện nay vẫn là ngành kinh doanh điện máy. Hầu như mọi trung tâm kinh doanh điện máy đều thực hiện khuyến mãi giảm giá và đang cạnh tranh nhau từng chút một để thu hút khách về phía mình.
Tại TP.HCM, mấy chục trung tâm kinh doanh điện máy, từ những đơn vị có thương hiệu như Nguyễn Kim, Thiên Hòa, Điện máy Chợ Lớn, Đệ Nhất Phan Khang, Ideas... cho đến những tên tuổi nhỏ như Tú Trinh, Hoàng Khương, Trần Thế..., đều cùng nhau khuyến mãi.
Trung tâm lớn thì giảm giá 30 - 49%, nhỏ thì 10 - 20%. Trong 14 trang quảng cáo màu của Báo Tuổi trẻ ra ngày 26/8 có đến 12 trang đăng quảng cáo của các nhà kinh doanh điện máy.
Ông Minh Thư cho rằng, trong thời điểm này, dù khó khăn đến mấy doanh nghiệp cũng phải khuyến mãi, giảm giá thì mới mong bán được hàng. “Doanh nghiệp nào có lợi thế về mạng lưới, về lượng khách hàng lớn... sẽ có khả năng đàm phán với nhà cung cấp để có giá giảm tốt nhất. Và chắc chắn nhờ chương trình kích cầu này mà sức mua sẽ tăng trong thời gian tới”, ông Minh Thư nói.
Tuy nhiên, để có những chương trình kích cầu này, không chỉ nhà sản xuất mà ngay cả các nhà kinh doanh cũng phải tốn kém không ít.
Đại diện một nhà kinh doanh siêu thị khá lớn tại TP.HCM cho biết, nếu trước đây việc giảm giá tại các siêu thị chủ yếu do các nhà cung cấp thực hiện và siêu thị chỉ giảm một phần chiết khấu, thì hiện nay, với những chương trình có kinh phí thực hiện lên đến cả chục tỷ đồng, thậm chí vài chục tỷ, thì bản thân các siêu thị, trung tâm mua sắm cũng phải bỏ ra khá nhiều.
Ngoài ra, họ phải hoạch định chiến lược ngay từ đầu năm với nhiều chương trình và thực hiện liên tục, xuyên suốt trong cả năm, vì vậy không tránh khỏi bị lỗ. 

Tìm hiểu câu chuyện: Tiền ta tiêu ở xứ tây

Cũng vì sức hút và triển vọng của outbound khá lớn mà các công ty du lịch đang nỗ lực cạnh tranh trong thị trường này. Chẳng hạn, khách du lịch gần đây khá thoải mái với các tour của Vietravel vì giá tour không tăng mà còn có xu hướng giảm. Đây là “một hiện tượng lạ” trong thời điểm lạm phát khắp châu Á.
1. Nước ngoài rẻ hơn trong nước
Khách du lịch chờ làm thủ tục xuất cảnh tại sân bay - Ảnh: Đào Loan
Theo đánh giá của Hiệp hội Du lịch TP.HCM, du lịch nước ngoài (outbound) đang phát triển mạnh với mức tăng trưởng từ 10 - 15%/năm, có thời điểm tăng đến 20%. Riêng 6 tháng đầu năm 2011 là 13%.
Theo thống kê của Phòng Kinh doanh du lịch nước ngoài của Công ty TST Tourist, mùa Hè 2010, lượng khách trong nước đi du lịch nước ngoài tăng mạnh so với cùng kỳ năm ngoái, tăng 170%, con số này vẫn tiếp tục tăng vào năm 2011.
Tương tự, theo số liệu của Vietravel, nhu cầu đi nước ngoài của khách Việt Nam mỗi năm tăng từ 30-40%. Vào những dịp lễ, Tết, lượng khách đăng ký tour outbound luôn tăng đột biến và công ty thường xuyên trong tình trạng khóa sổ vẫn có khách đăng ký tour!
Bà Nguyễn Thị Khánh, Phó Chủ tịch Hiệp hội du lịch TP.HCM, lý giải sự đột biến này la do hiện nay, giá các tour du lịch ở nước ngoài tương đối phù hợp với thu nhập của khách hàng trong nước, trong khi đó, dịch vụ lại rất tốt, nhiều chương trình vui chơi giải trí, mua sắm hấp dẫn...
So với du lịch nội địa, du lịch nước ngoài rõ ràng hấp dẫn hơn. Chẳng hạn, chỉ cần lượt bay từ Hà Nội vào TP.HCM và trở ra đã mất khoảng 200 USD. Nhưng chỉ với khoảng 300 USD khách hàng đã được “xuất ngoại” sang Thái Lan 5 ngày 4 đêm, với chất lượng phòng ngủ, bữa ăn khá đảm bảo.
Học sinh Việt Nam tham gia khóa đào tạo kỹ năng sống tại Singapore do Trung tâm Thanh Thiếu niên miền Nam tổ chức
Vì thế, ngay cả thời điểm kinh tế khó khăn, lạm phát tăng cao nhưng các tour outbound vẫn luôn đông khách. Một trong những điểm đến thường xuyên bị “cháy tour” là Trung Quốc, Hông Kông, Macau, Singapore... vì ở đây có những thắng cảnh đẹp, là “thiên đường mua sắm” và đặc biệt là giá thành đến các tour này cũng chỉ ngang với tour nội địa, thậm chí còn rẻ hơn.
Bên cạnh đó, một số thị trường trong khu vực châu Á còn tung ra các chương trình giảm giá mạnh, các chiến dịch bán hàng giảm giá, quà tặng, phần thưởng hấp dẫn để thu hút khách nước ngoài.
Sự chuyển hướng này khiến cơ cấu khách du lịch trong nước những năm gần đây cũng thay đổi. Chẳng hạn, theo thống kê của Vietravel, những năm trước, lượng khách lựa chọn đi nước ngoài chỉ chiếm 40% và 60% khách đi du lịch trong nước.
Còn hiện nay, tỷ lệ này đã đảo ngược. Các công ty du lịch cũng thích làm tour đưa khách đi nước ngoài hơn vì ổn định, không phải tính toán nhiều mà vẫn có lãi.
Trước ưu thế của tour outbound, không ít giám đốc các công ty thay vì mừng cho lượng khách tăng, doanh thu ổn định, lại chia sẻ quan điểm:
“Càng đi ra nước ngoài, thấy các nước làm du lịch, mình lại suy nghĩ khi nhìn lại sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam. Ở nước ngoài, không phải nơi nào cũng đẹp, ví dụ như biển Pattaya không bằng nhiều bãi biển Việt Nam, hoặc ở một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc... nhiều danh thắng không bằng Việt Nam nhưng nhiều dịch vụ tốt hơn, hấp dẫn hơn. Đặc biệt, sự đầu tư cho du lịch rất đồng bộ, công phu”.
Chẳng hạn, ở Singapore, cứ 6 tháng lại có sản phẩm du lịch mới hoặc liên tục có các đợt giảm giá mua sắm nên không chỉ thu hút du khách quay lại mà còn “móc” được hầu bao du khách.
Trong khi đó, một lãnh đạo ngành du lịch thừa nhận:
“Có một nghịch lý là mặc dù Việt Nam là điểm đến rất hấp dẫn với nhiều danh lam, thắng cảnh phong phú nhưng ngành du lịch vẫn chưa khai thác được hết thế rất mạnh này và chỉ có khoảng 5-7% du khách quay trở lại Việt Nam trong những lần sau. Một trong những hạn chế này là do các điểm đến chưa được đầu tư cả hạ tầng đến dịch vụ, các sản phẩm cho du lịch lại đơn điệu, nghèo nàn...”.
2. Giữ sao ở đất người
Hành hương về đất Phật là một trong những tour du lịch nước ngoài được nhiều người Việt Nam lựa chọn
Cũng vì sức hút và triển vọng của outbound khá lớn mà các công ty du lịch đang nỗ lực cạnh tranh trong thị trường này. Chẳng hạn, khách du lịch gần đây khá thoải mái với các tour của Vietravel vì giá tour không tăng mà còn có xu hướng giảm. Đây là “một hiện tượng lạ” trong thời điểm lạm phát khắp châu Á.
Ông Trần Đoàn Thế Duy, Phó tổng giám đốc Công ty Vietravel cũng cho biết: “Bên cạnh chất lượng và giá cả, Vietravel cũng chú ý đến sự khác biệt mà chỉ đi du lịch với Vietravel, du khách mới có thể cảm nhận được.
Ví dụ hiện nay, Vietravel đang kết hợp cùng Royal Caribean Cruise tổ chức định kỳ các tour đi du thuyền qua các thành phố nổi tiếng, hoặc khi đi du lịch Hàn Quốc, du khách sẽ được thưởng thức miễn phí Nanta Show, (chi phí show này 30 USD USD/người).
Ông Lại Minh Duy, Tổng giám đốc Công ty TST Tourist:
Ở các nước đang có giá dịch vụ rất cao như Hồng Kông, Singapore, các đối tác nước ngoài đã cùng với TST chia sẻ, chấp nhận hạ thấp lợi nhuận, chọn dịch vụ phù hợp với tiêu chí đảm bảo chất lượng tour và sự an toàn cho du khách. Các công ty du lịch lớn còn được hưởng nhiều ưu tiên của các hãng hàng không, Tổng cục Du lịch các nước. Bù lại, các công ty phải bỏ tiền đặt cọc giữ chỗ trước cho các dịch vu vé máy bay, khách sạn…
Bà Tạ Thị Cẩm Vinh, Trưởng phòng outbound, Công ty Dịch vụ Du lịch Bến Thành:
Các shop ở nước ngoài sẵn sàng tài trợ xe, khách sạn và các dịch vụ khác để giúp hạ giá thành một tour du lịch. Nhưng nếu làm vậy thì chất lượng tour sẽ kém, đi shopping nhiều nên tham quan, tìm hiểu chỉ ở dạng phiên phiến. Vì thế, theo tôi nếu là tour quá rẻ thì coi chừng là có vấn đề.
Ông Nguyễn Quốc Kỳ, Tổng giám đốc Vietravel:
Tiềm năng khách du lịch cả trong nước và nước ngoài, rất lớn nên không chỉ xác định chiến lược mở rộng hệ thống chi nhánh rộng khắp trên cả nước từ Lào Cai đến Phú Quốc, Vietravel còn đang tiếp tục mở rộng mạng lưới ra các nước như: Thái Lan, Singapore, Malaysia, Hồng Kông, Nhật Bản, Pháp, bên cạnh các văn phòng đã thiết lập tại Campuchia, Mỹ. Đây cũng là mục tiêu và là chiến lược của Vietravel nhằm đạt đến vị trí công ty lữ hành đa quốc gia đầu tiên của Việt Nam vào năm 2015.
Ông Khin Zaw, Giám đốc Madalay Tour, kiêm Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Myanmar:
Muốn mở rộng khách du lịch nội địa ra nước ngoài và ngược lại thu hút khách nước ngoài về trong nước thì cách làm hiệu quả nhất là nên mở văn phòng đại diện tại các nước trọng điểm, liên kết với các công ty du lịch ở nước đặt văn phòng đại diện và tổ chức nhiều chương trình phối hợp, xúc tiến thương mại, du lịch phù hợp.
 
Riêng nơi nghỉ, chúng tôi cam kết du khách sẽ được nghỉ tại khách sạn 4 sao ở Bangkok, khách sạn 5 sao ở Kuala Lumpur, khách sạn 4 sao ở Hàn Quốc, Mỹ, châu Âu và Úc...”.
Theo ông Duy, có được sự ưu đãi này là nhờ Vietravel đã ký được những cam kết từ các hãng hàng không, nhà cung cấp dịch vụ ở nước ngoài đến các cơ quan quản lý du lịch ở các nước.
Theo ông Lâm Tứ Khôi, Phó phòng outbound, Công ty Du lịch Lữ hành Saigontourist, du lịch outbound phát triển nhanh và rộng trong thời gian gần đây.
Trước đây, outbound chỉ trong khu vực các nước Đông Nam Á và Trung Quốc, nay mở rộng sang châu Á là Hàn Quốc, Nhật Bản, các châu khác là Úc, Mỹ, châu Âu.
Do nhu cầu lớn nên nhiều công ty du lịch phát triển, việc cạnh tranh cũng gay gắt hơn với nhiều cách thức khác nhau, nhưng chủ yếu tập trung vào giá cả và chất lượng tour.
Ông Khôi cho biết, trong tình hình biến động giá cả về dịch vụ du lịch, Saigontourist vẫn quy định niêm yết giá Việt Nam dựa vào tỷ giá Nhà nước, có khi bị lỗ lúc biến động tỷ giá.
Tuy nhiên, ghi nhận trên thị trường thì cũng thấy hình thức cạnh tranh không lành mạnh để kéo giá tour xuống. Ví dụ, nhiều công ty tung ra các quảng cáo hấp dẫn khách đến mua tour như “Thái Lan 6 ngày 5 đêm 229 USD”, “Singapore 4 ngày 3 đêm 329 USD”...
Thực tế là du khách phải trả thêm ít nhất 100 USD để chi trả cho các khoản: thuế sân bay hai nước (25 USD), phụ phí xăng dầu 30 USD, phí an ninh 10 USD và hàng loạt loại vé...
Theo lý giải của ông Trần Đoàn Thế Duy: “Sở dĩ các công ty du lịch lớn luôn có giá tour thấp nhưng chất lượng cao vì lượng khách của các công ty lớn thường ổn định, tăng trưởng đều đặn nên được các hãng hàng không, khách sạn ưu tiên chỗ, giá tốt, dễ giữ được chất lượng.
Công ty nhỏ muốn có lợi nhuận phải giảm dịch vụ, bớt chi phí nên khó giữ chất lượng. Chưa kể, phần đông khách chọn giá rẻ còn bị cắt mất dịch vụ, thậm chí cả bảo hiểm mà không biết, đến khi gặp chuyện không hay thì không biết khiếu nại ở đâu”.
Ngoài ra, cũng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá cả như chuyến bay ngày hay đêm (bay ban ngày sẽ tốn thêm chi phí khách sạn, tour tham quan..., bay đêm không tốn khách sạn); khách sạn bao nhiêu sao, vị trí, còn tốt hay xuống cấp; chất lượng bữa ăn và quan trọng nhất là các đối tác nước ngoài thường kết hợp với các điểm bán hàng để có hoa hồng và hạ giá tour.
Như vậy khách mất thời giờ cho shopping, giảm điểm tham quan. Tour không shopping thường cao hơn 50 - 60USD/ngày.
Ông Lại Minh Duy, Tổng giám đốc Công ty TST Tourist, cũng đồng tình:
“Cứ thống kê trong một giai đoạn nhất định nào đó sẽ thấy rất nhiều công ty du lịch nhỏ của Việt Nam biến mất rồi hàng loạt các công ty khác ra đời.
Đó là chuyện bình thường, nhưng nếu khách hàng không tinh tế chọn lựa, sẽ gặp những công ty không đảm bảo chất lượng, khi quay lại phàn nàn thì có khi công ty ấy đã biến mất. Các công ty nhỏ trong nước khó tìm các đối tác lớn, nên chất lượng tour không ổn định”.
Bà Tạ Thị Cẩm Vinh, Trưởng phòng outbound, Công ty Dịch vụ Du lịch Bến Thành (Ben Thanh Tourist) cũng tiết lộ cách thu hút khách:
“Chúng tôi không sử dụng những dịch vụ quá tệ do cạnh tranh về giá mà cố gắng bù thêm trong mức có thể. Ví dụ: trước đây 1 USD tương đương 8 nhân dân tệ, nay chỉ còn 6,2 nhân dân tệ thì để giữ chất lượng bữa ăn cho khách đi Trung Quốc, chúng tôi phải nâng lên từ 25 đến 40 tệ/người mà vẫn giữ nguyên giá tour.
Ở Hồng Kông, nếu đặt ăn 10 USD/người thì có khăn trải bàn lịch sự, 7 USD thì chỉ có khăn trải nylon. Các shop ở nước ngoài sẵn sàng tài trợ xe, khách sạn và các dịch vụ khác để giúp hạ giá thành một tour du lịch. Nhưng nếu làm vậy thì chất lượng tour sẽ kém, việc tham quan, tìm hiểu chỉ ở dạng phiên phiến.
Với cách đi là để mở rộng tầm nhìn chứ không phải là để tiêu xài quá mức nên chúng tôi vẫn giới thiệu những khu chợ, siêu thị đúng mong muốn của khách, nhưng không chiếm quá nhiều thời gian. Vì thế, theo tôi nếu là tour quá rẻ thì coi chừng là có vấn đề”.
3. Chiến lược liên kết
Đoàn Famtrip Campuchia - Thái Lan của Bến Thánh Tourist
Tuy được đánh giá là thị trường đang mở và thu hút khá đông lượng khách xuất ngoại, nhưng trước sự so sánh, đòi hỏi ngày càng cao của “thượng đế” về chất lượng, giá cả và dịch vụ các tour, hầu hết các công ty du lịch đều có những chiến lược hợp tác, liên kết với các công ty du lịch nước ngoài để trao đổi nguồn khách cũng như dựa vào thế mạnh của nhau để đảm bảo giá tour cạnh tranh mà chất lượng mỗi điểm đến vẫn đảm bảo.
Ông Lại Minh Duy cho biết: “Ở các nước đang có giá dịch vụ rất cao như Hồng Kông, Singapore, các đối tác nước ngoài đã cùng với TST chia sẻ, chấp nhận hạ thấp lợi nhuận, chọn dịch vụ phù hợp với tiêu chí đảm bảo chất lượng tour và sự an toàn cho du khách.
Các công ty du lịch lớn còn được hưởng nhiều ưu tiên của các hãng hàng không, Tổng cục Du lịch các nước. Bù lại, các công ty phải bỏ tiền đặt cọc giữ chỗ trước cho các dịch vu vé máy bay, khách sạn...”.
Ông Khin Zaw, Giám đốc Madalay Tour, kiêm Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Myanmar, cho biết:
“Muốn mở rộng khách du lịch nội địa ra nước ngoài và ngược lại thu hút khách nước ngoài về trong nước thì cách làm hiệu quả nhất là nên mở văn phòng đại diện tại các nước trọng điểm, liên kết với các công ty du lịch ở nước đặt văn phòng đại diện và tổ chức nhiều chương trình phối hợp, xúc tiến thương mại, du lịch phù hợp”.
Ông đưa ra dẫn chứng: “Tuy chỉ mới kết hợp với Vietravel để quảng bá, mở rộng du lịch cho Myanmar không lâu, nhưng lượng khách Việt Nam đến Myanmar qua Vietravel đang đã có tín hiệu tốt và khả quan. Không chỉ tổ chức các tour du lịch, Vietravel còn tổ chức các tour xúc tiến đầu tư thương mại hiệu quả”.
Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai, Giám đốc Đối ngoại - Truyền thông Công ty du lịch FIDITOUR, cũng chia sẻ:
“Việc tìm đối tác công ty lữ hành ở nước ngoài theo hình thức liên kết, trao đổi khách là một cách làm khá hiệu quả. Thực tế những năm qua, nhờ tập trung vào hai hướng đi này mà lượng khách inbout và outbound của FIDITOUR tăng đáng kể”.
Tương tự, Vietravel, Saigontourist cũng mở văn phòng đại diện tại các nước để nâng cao uy tín và quảng bá thương hiệu. Song song đó, Saigontourist cũng kết hợp với Vietnam Airlines và các hãng hàng không quốc tế có khuyến mãi hoặc hỗ trợ tìm kiếm mức giá ổn định trong giai đoạn dài.
Ông Khôi cho biết: “Việc hợp tác với Vietnam Airlines tổ chức đường bay thẳng, không quá cảnh (hoặc có rất ít) giúp chi phí ổn định, giá tour mới cạnh tranh tốt.
Bên cạnh đó, Công ty còn hợp tác với các công ty du lịch là đối tác ở nước ngoài, tổ chức nhiều các loại hình tour: tour tiết kiệm, tour cao cấp, tour dành cho người cao tuổi... và có mức phí bảo hiểm phù hợp”. 

Giới thiệu cùng bạn việc xuất bản thua đau

Ví dụ, tháng 1, Công ty Khảo sát thị trường xuất bản Neilsen Bookscan công bố top 100 đầu sách bán chạy ở Anh trong thời gian 12 năm từ 1998 đến 2010. Kết quả cho thấy, Mật mã Da Vinci của tác giả người Mỹ Dan Brown bán được hơn 4,5 triệu bản, có doanh thu 22,8 triệu bảng. Thiên thần và ác quỷ, bán hơn 3 triệu bản, thu về 15,5 triệu bảng.
Độ vênh thị trường
Cục Xuất bản đã có một phen bất ngờ trước kết quả ghi nhận từ Hội nghị đánh giá công tác xuất bản sáu tháng đầu năm 2011 do Ban Tuyên giáo trung ương tổ chức trung tuần tháng 7 vừa qua: Có khá nhiều nhà xuất bản (NXB) lớn đầu hàng trước kế hoạch xuất bản của mình. Ví dụ, NXB Thanh Niên chỉ đạt 0,3%, NXB Thanh Hóa 1,6%...
Đặc biệt, trong 6 tháng đầu năm nay, NXB Hồng Đức, NXB Nông nghiệp và NXB Sân khấu không xuất bản được quyển sách nào.
“Quá nhiều khó khăn trong công tác xuất bản hiện nay”, ông Nguyễn Minh Nhựt, Giám đốc XNB Trẻ thừa nhận. Để cuốn sách đến được tay người đọc thì trung bình, chi phí cho phát hành là 40% giá bìa, chi phí tác quyền là 10 đến 13% và cuối cùng là giấy, công in chiếm 28 - 30%. Phần còn lại mới thuộc về NXB.
Như vậy, nếu thị trường “xuôi chèo, mát mái” thì các NXB cũng có khả năng tồn tại và phát triển với tốc độ chậm. “Lợi nhuận của NXB cũng chỉ chiếm 5% doanh thu. Mục tiêu cao nhất mà NXB Trẻ đề ra cho mình là tăng trưởng 5% so với năm trước”, ông Nhựt tiết lộ.
Không nằm ngoài khó khăn chung, lãi vay cũng khiến các NXB hết sức cân nhắc trong những dự án. Tuy nhiên, theo ông Phạm Quang Vinh, Giám đốc NXB Kim Đồng, nếu không tính bài toán nan giải là sách lậu vẫn đang hoành hành thì cái khó mới nhất là từ đầu năm đến nay, giá giấy và công in đã liên tục tăng, lên đến gần 30% so với năm trước.
"Điều đáng buồn là sức tiêu thụ sách của thị trường Việt Nam chẳng là bao gì với thị trường những nước phát triển”, bà Phan Ngọc Diễm Hân, Giám đốc marketing Công ty CP văn hóa Phương Nam nhận định.
Theo bà Hân, bình quân mỗi tựa sách, được xem là bán chạy ở Việt Nam thường không vượt quá 10.000 bản in, trong khi ở thị trường thế giới, sách bán ra tính bằng đơn vị hàng triệu hay ít ra là hàng trăm ngàn bản in.
Ví dụ, tháng 1, Công ty Khảo sát thị trường xuất bản Neilsen Bookscan công bố top 100 đầu sách bán chạy ở Anh trong thời gian 12 năm từ 1998 đến 2010. Kết quả cho thấy, Mật mã Da Vinci của tác giả người Mỹ Dan Brown bán được hơn 4,5 triệu bản, có doanh thu 22,8 triệu bảng. Thiên thần và ác quỷ, bán hơn 3 triệu bản, thu về 15,5 triệu bảng.
Tính ra trung bình cứ khoảng 15 người Anh, có 1 người đọc Mật mã Da Vinci. Việt Nam có hơn 80 triệu dân, theo số liệu đánh giá của Cục Xuất bản năm 2010 thì bình quân mỗi năm, một người Việt Nam đọc được... 2,8 cuốn sách và... 7,07 tờ báo! Kết quả thống kê chỉ đủ khiến người làm xuất bản đau lòng!
Cầm cự tìm hướng đi
Cuối năm 2010, NXB Trẻ đầu tư một khoản lớn vào việc mua giấy, dự trữ. Nhờ bước đi này, theo ông Nguyễn Minh Nhựt, những đầu sách ra ngoài thị trường của NXB Trẻ từ đầu năm đến nay chưa bị ảnh hưởng bởi cơn bão giá giấy tăng.
Thế nhưng, đây cũng chỉ là giải pháp tạm thời. Để tồn tại, các đơn vị làm sách buộc phải có chiến lược riêng. Điển hình là từ nay đến cuối năm, NXB Trẻ sẽ thử nghiệm phát hành dòng sách giá rẻ, in sau đợt phát hành đầu tiên tái bản, trên giấy thường, bìa thường... với giá chỉ bằng 50% giá dòng sách chính thống.
“Những cuốn sách này chỉ có giá trị thông tin nhưng cũng khuyến khích được những độc giả có điều kiện kinh tế eo hẹp ở vùng sâu, vùng xa mua sách”, ông Nhựt cho biết.
Không chọn cách giảm giá thành, First News tìm cho mình kênh phân phối mới:
“Chúng tôi đang tìm đường đem sách của mình đến cộng đồng Việt Nam đang sống, làm việc và học tập xa quê hương. Số lượng độc giả này tuy không nhiều bằng bạn đọc trong nước nhưng kênh phát hành mới có thể giúp First News có khả năng mở rộng”, ông Nguyễn Văn Phước, Giám đốc Công ty Văn hóa Trí Việt chia sẻ.
Trước tình hình khó khăn của công tác xuất bản, Bộ Thông tin - Truyền thông cho biết, thời gian tới, những chính sách hỗ trợ từ Chính phủ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngành xuất bản.
Cụ thể, thuế thu nhập doanh nghiệp đang được xem xét, có thể sẽ giảm từ 25% xuống còn 10%. Ngoài ra, hiện Bộ đã trình Thủ tướng kế hoạch phương hướng thành lập Quỹ Hỗ trợ xuất bản Việt Nam trong năm 2011. Trong khi chờ đợi chính sách, tất nhiên, các NXB vẫn phải tiếp tục... tự tìm cách cứu mình!