Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư Vấn Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư Vấn Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2016

Cận cảnh chân dung ông chủ khu nghỉ dưỡng 5 sao & lời hứa 23 triệu USD

Là kỹ sư xây dựng, không rành về kinh doanh nên khi thành lập công ty, ông cho biết mình chỉ mong muốn mỗi năm xuất được khoảng 100 container hàng. Và năm đầu tiên ông xuất được 60 container, sau đó số lượng tăng dần lên 200 đến 300 container mỗi năm, rồi đến 1.000, 2.000, 3.000 container loại 40 feet. Doanh thu thời kỳ thịnh vượng nhất của công ty đạt hơn 30 triệu USD.
Kiên quyết chọn Tuyền Lâm mà không phải bất kỳ nơi nào khác, doanh nhân Việt kiều Tiêu Như Phương đã để lại dấu ấn rất đặc biệt giữa vùng cao nguyên lãng mạn này. 

Dalat Edensee trông giống như một ngôi làng châu Âu nằm trên đồi, cạnh bờ hồ, giữa những cây thông. Khu nghỉ dưỡng này là công trình tâm huyết của doanh nhân Việt kiều Tiêu Như Phương. Ông rời Việt Nam từ năm 1968 sang Cộng hòa Liên bang Đức học, tốt nghiệp kỹ sư xây dựng rồi về nước lần đầu tiên vào năm 1985, với mong muốn được đóng góp một phần sức lực vào công cuộc phát triển quê hương. Đối với ông, khu vực Tuyền Lâm của Đà Lạt với hồ nước mênh mông, xanh biếc cùng ngàn thông, đồi núi chập chùng không khác gì một vùng quê châu Âu. Nhưng Tuyền Lâm cũng có nét riêng, một nơi chốn hoang sơ, yên tĩnh, phù hợp với những ai muốn tìm chốn để cân bằng đầu óc cùng cơ thể hay để suy nghĩ cho tương lai đường đời hoặc kinh doanh của mình.
Từ ý định
Doanh nhân Việt kiều Tiêu Như Phương
Và ông Phương đã ấp ủ ý định xây dựng một khu nghỉ mát đậm chất châu Âu tại nơi này. Có không ít những lời bàn ra, cho rằng kinh doanh khu nghỉ dưỡng ở Đà Lạt không tốt bằng Nha Trang, Phú Quốc hay Hội An. Tuy nhiên, ông vẫn muốn thực hiện ý định của mình. Khi ông đề nghị lập dự án khu nghỉ dưỡng 5 sao tại Tuyền Lâm, những mảnh đất ven hồ đều đã được cho thuê; công ty của ông đến đây sau cùng. Ban quản lý Khu du lịch hồ Tuyền Lâm cho biết ông phải đăng ký và chờ cho đến khi có công ty nào đó bỏ dự án thì mới được thuê đất. Nhưng ông đã nói với họ: “Tôi đầu tư vào đây vì muốn đóng góp chứ không phải vì lợi nhuận. Nếu ở đây hết chỗ rồi thì tôi sẽ đến địa phương khác”.
Trong lúc đi khảo sát các khu đất quanh hồ Tuyền Lâm, ông Phương nhận thấy có một khu đất rất đẹp ở bán đảo phía Nam hồ Tuyền Lâm, khoảng 15 ha. Với trực giác kinh doanh lẫn kinh nghiệm của một người làm xây dựng, ông tin đó là nơi thích hợp với dự án của mình, dẫu nó không bề thế so với những khu đất 100 ha, 200 ha của các dự án khác ven hồ. Tuy nhiên, Ban quản lý Khu du lịch hồ Tuyền Lâm nói rằng đó là “đất để dành”, không thể cho ông thuê được.
Ông kiên quyết: “Xung quanh đây có rất nhiều dự án nhưng vẫn chưa được xây dựng. Nếu cho tôi nhận khu đất này, tôi hứa sẽ hoàn thành việc xây dựng trong vòng 3 năm”.
Thế rồi 15 ha đất mà ông gọi là “duyên nợ” ấy đã được trao cho ông. Sau thời gian làm thủ tục, vào năm 2008, ông bắt đầu cho khởi công xây dựng tại đây khu nghỉ dưỡng mang tên Dalat Edensee vào năm 2008 và cho mở cửa hoạt động từ ngày 15.5.2011. Dự án của ông Phương là dự án khu nghỉ dưỡng 5 sao đầu tiên được hoàn thành tại khu vực hồ Tuyền Lâm. Ông đã giữ đúng lời hứa của mình. Cần biết thêm: Hiện nay, Tuyền Lâm có trên 30 dự án đầu tư, nhưng chỉ mới có 8 dự án được triển khai.
Khu nghỉ dưỡng với vốn đầu tư hơn 23 triệu USD này mang phong cách châu Âu nhưng hoàn toàn do đội ngũ người Việt thực hiện. Phần thiết kế do kiến trúc sư Khương Văn Mười, người mà ông Phương kính trọng như bậc đàn anh, đảm trách. Trước khi thiết kế, ông Mười đã tìm hiểu kỹ những mong muốn cùng kinh nghiệm sống tại Đức của ông Phương. Cuối cùng, cả hai quyết định sẽ xây dựng một ngôi làng giống như làng truyền thống của châu Âu trên khu đất này.
Việc điều hành khu nghỉ dưỡng hiện nay cũng do những người Việt đảm trách, với ông Trương Văn Dũng, Việt kiều Đan Mạch, đứng đầu. “Đó là người có tư duy tốt, am hiểu con người và yêu mến Việt Nam. Tiêu chuẩn của tôi khi tuyển người chính là phải có tâm như vậy”, ông Phương cho biết.

Đến hiện thực
Vài nét về ông Tiêu Như Phương

• Sinh năm 1950 tại Rạch Giá
• Học trung học trường Nguyễn Trung Trực (Rạch Giá)
• Năm 1967 học năm cuối trung học tại trường Petrus Ký (nay là Lê Hồng Phong, TP. HCM)
• Năm 1968 du học Cộng hòa Liên bang Đức
• Năm 1970 vào Đại học Stuttgart
• Năm 1976 tốt nghiệp kỹ sư xây dựng.
• Năm 1985 về thăm quê hương lần đầu tiên
• Hiện là Tổng giám đốc Công ty Maico Đà Lạt, chủ đầu tư khu nghỉ dưỡng Dalat Edensee.
Kiến trúc, cảnh quan của Dalat Edensee khá hài hòa, với các cụm biệt thự gồm 120 phòng; mỗi biệt thự đều có không gian riêng và nằm rải rác trên triền đồi hoặc ven hồ, bên cạnh những con đường uốn dốc. Khu nghỉ dưỡng còn có một tòa nhà trung tâm gồm sảnh đón khách, nhà hàng, phòng chiếu phim, phòng hội nghị, thậm chí cả một phòng dành cho các cuộc họp báo.
Hiện nay, sân quần vợt, nhà thiền và spa của khu nghỉ dưỡng vẫn trong giai đoạn xây dựng. Đến khoảng tháng 12, khi sân quần vợt và spa hoàn thành, khu nghỉ dưỡng sẽ được chính thức khai trương. Nhà thiền thì sẽ mở của sau vì “tôi muốn chăm chút cho khu vực này đến từng chi tiết”, ông Phương nói. Và ông hy vọng đây sẽ là nơi gặp gỡ của người yêu thích thiền. Theo ông, trong cuộc sống đầy những áp lực như ngày nay, thiền sẽ giúp người tham gia được bình yên, gần gũi nhau hơn.
Nhìn chung, Dalat Edensee hoàn toàn đạt những yêu cầu về mặt phong thủy với 3 bên là nước hồ Tuyền Lâm xanh biếc, bên còn lại giáp với núi Pinhat cao 1.600 m, cũng xanh xanh với ngàn thông. Và mỗi cụm biệt thự đều có hướng nhìn ra hồ hoặc núi.
Hiện nay, nơi đây có 180 nhân viên. Sắp tới, theo ông Phương, sẽ cần khoảng thêm gần 20 nhân viên nữa vì ông sẽ cho mở dịch vụ du lịch dã ngoại với các hoạt động như câu cá, leo núi, bơi thuyền. Ông còn dự tính sẽ mở cả những lớp đào tạo về những nghề như phục vụ bàn, phòng, đón khách… tại khu nghỉ dưỡng vì, theo ông, nguồn nhân lực cho du lịch đang thiếu hụt.
Khi được hỏi về vấn đề tiếp thị, quảng cáo khu nghỉ dưỡng của mình, ông Phương cho biết: “Chuyện quảng bá tôi không giỏi. Tôi chỉ biết tạo ra một sản phẩm thật chất lượng và tin rằng mỗi người khách khi đến đây sẽ được phục vụ tốt và vì vậy sẽ nói lại với những người khác về Dalat Edensee”.
Tuy nhiên, ông cho biết mỗi năm sẽ bỏ ra khoảng 21 tỉ đồng để quảng cáo trên báo chí trong nước. Khu nghỉ dưỡng cũng có trang web riêng và đã đăng ký với các trang web đặt phòng quốc tế như Agoda để được quảng bá.
Ông cho rằng du khách đi lẻ đến Đà Lạt ít người chịu bỏ tiền ra để thuê phòng tại những khu nghỉ dưỡng 5 sao sang trọng như khi đến vùng biển Nha Trang hay Hội An. Họ lên thành phố cao nguyên này chủ yếu để tận hưởng không khí mát mẻ, trong lành, ăn rau củ, đi dạo vườn hoa… hơn là vào nghỉ tại một khu nghỉ dưỡng cao cấp. Vì vậy, khách hàng ông kỳ vọng chính là khách tham gia hội nghị, hội thảo và khách đoàn. Trong tương lai, theo ông, để thu hút thêm khách, khu nghỉ dưỡng sẽ cung cấp các gói khuyến mãi về phòng, trong đó có kèm ăn uống, spa, làm đẹp, tập yoga hoặc thiền.
Tiền lệ Hội An
Dalat Edensee là dự án nghỉ dưỡng thứ hai của ông Phương. Trước đó, ông đã cùng 2 người bạn, ông Nguyễn Thanh Sang và ông Ngô Chí Lễ, đầu tư xây dựng khu nghỉ dưỡng Palm Garden ở Hội An. Là người thích nghiên cứu đạo Phật, ông tin rằng mình có duyên khi gặp được 2 người bạn này, một người gốc Hội An thành đạt trong ngành dệt may, một người gốc Hải Dương thành công với ngành dệt nhuộm. Cả 3 họp thành “liên doanh Nam - Trung - Bắc” (ông Phương người gốc Rạch Giá) làm nên khu nghỉ dưỡng 5 sao này cùng số vốn đầu tư hơn 10 triệu USD.

 
Palm Garden rộng 5 ha nhưng chỉ có 20% diện tích được dùng để xây dựng 163 phòng nghỉ, 4 héc ta còn lại được sử dụng làm sân vườn, bãi cỏ, cảnh quan. Khu nghỉ dưỡng nằm trên bãi biển Cửa Đại, cách khu phố cổ Hội An 6 km và sân bay Đà Nẵng 30 km, chính thức mở cửa từ cuối năm 2005.
Đây là khu nghỉ dưỡng từng đón các bộ trưởng du lịch của những nước thuộc Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương vào cuối năm 2006. Nhờ đó, tên tuổi của Palm Garden đã được nhiều người biết đến trên trường quốc tế, và nay đã trở thành một khu nghỉ dưỡng khá thành công trong kinh doanh ở Hội An.
Khi trở về Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1985, ông Phương đã tìm hiểu về hàng thủ công mỹ nghệ và nhận thấy những nhà sản xuất các mặt hàng này cần được hỗ trợ về đầu ra. Ông nghĩ mình có thể hợp tác với họ do đã sống khá lâu ở nước ngoài, am hiểu các sở thích của người phương Tây.
Sau đó ông thành lập công ty Maico Bình Dương chuyên xuất khẩu hàng mây tre lá, hàng thêu, thảm len, sơn mài, đồ gốm sứ sang châu Âu, chủ yếu vào Đức (chiếm đến 50%). Các đối tác của ông ở Bình Dương lúc đó là Minh Long, Tiều Cái, Vương Phẩm, Thành Lễ. Ông cũng giúp cho các cơ sở nhỏ như Kiến Xuân và một số cơ sở nhỏ khác ở Biên Hòa mở rộng sản xuất.
Là kỹ sư xây dựng, không rành về kinh doanh nên khi thành lập công ty, ông cho biết mình chỉ mong muốn mỗi năm xuất được khoảng 100 container hàng. Và năm đầu tiên ông xuất được 60 container, sau đó số lượng tăng dần lên 200 đến 300 container mỗi năm, rồi đến 1.000, 2.000, 3.000 container loại 40 feet. Doanh thu thời kỳ thịnh vượng nhất của công ty đạt hơn 30 triệu USD.
Những năm gần đây, do khủng hoảng kinh tế thế giới và lạm phát trong nước tăng cao làm giá hàng hóa của Việt Nam tăng theo, nên mức độ hấp dẫn hàng xuất khẩu của Việt Nam đã giảm dần. Những loại hàng giá rẻ như gốm sứ hay mây tre lá của Việt Nam phải cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của các nước khác cũng có giá rẻ. Do vậy Maico Bình Dương (từ vài năm nay do con trai ông Phương phụ trách) chỉ xuất được chừng 2.000 container mỗi năm; doanh thu đạt khoảng trên 20 triệu USD vào năm ngoái.
Tuy nhiên, ông Phương cho biết nhờ lãi của Maico Bình Dương mà ông mới có vốn để xây dựng Dalat Edensee. Về kinh doanh của khu nghỉ dưỡng này, ông thổ lộ: “Tôi không quan tâm nhiều đến chuyện lời lỗ, khi nào lấy lại vốn cũng được”. Ông nói thêm rằng ông xem đây như nhà, nơi để nghỉ ngơi, dưỡng già cùng người vợ hiền, người đã có những đóng góp âm thầm nhưng không nhỏ vào việc xây dựng khu nghỉ dưỡng này. Khi được hỏi khi nào ông sẽ chính thức về hưu, ông trả lời: “ Chắc có lẽ phải 10 năm nữa”.
Hiện nay, vị doanh nhân 61 tuổi này vẫn đi đi về về giữa Việt Nam với Đức do còn phải lo cả công việc làm ăn tại châu Âu.

Cùng tìm hiểu về sự kinh ngạc của ông chủ Heineken!

Sức tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường bia đã khiến nhiều nhà sản xuất nước ngoài ngạc nhiên. Trong chuyến viếng thăm Công ty TNHH Nhà máy Bia Việt Nam (VBL) vào tháng 5 vừa qua, ông Michel de Carvalho, chủ sở hữu thương hiệu bia Heineken, tỏ ra kinh ngạc trước tốc độ tiêu thụ nhãn hiệu bia này tại Việt Nam!
Đơn vị tính bằng tỷ lít
Với mức tiêu thụ 2,7 tỷ lít bia trong năm 2010 (khoảng 24 lít trên/đầu người/năm, bằng 1/10 so với châu Âu), Việt Nam đã trở thành nước thứ ba có sản lượng tiêu thụ bia cao nhất châu Á, sau Nhật và Trung Quốc.
Dù đang ở mức cao nhưng sức tiêu thụ mặt hàng bia vẫn đang tăng lên mạnh mẽ bất chấp những khó khăn của nền kinh tế.
Theo khảo sát của Kantar Worldpanel Vietnam tại 4 thành phố lớn (Hà Nội, TP.HCM, Cần Thơ, Đà Nẵng), từ đầu năm đến nay, đã có khoảng 120 triệu lít bia (tương đương với 2.900 tỷ đồng) được tiêu thụ tại các hộ gia đình.
Và dự kiến, đến hết năm nay, số bia được tiêu thụ tại 4 thành phố này sẽ đạt 300 triệu lít với tổng trị giá 7.250 tỷ đồng.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy, có đến 80% số hộ gia đình tại các thành phố này dùng bia với số tiền 1,6 triệu đồng/năm, và mỗi người uống bình quân 3 lần/tuần, mỗi lần uống từ 2-3 chai bia.
Sức tiêu thụ bia tăng mạnh còn do thị hiếu tiêu dùng thay đổi. Tại các vùng nông thôn, việc dùng bia thay rượu trong các dịp lễ Tết và ngay trong những ngày thường đã trở nên phổ biến hơn.
Còn theo số liệu của Hiệp hội Bia-Rượu-Nước giải khát Việt Nam, dù kinh tế khó khăn nhưng ngành bia vẫn phát triển tốt. Chỉ tính riêng những nhãn hiệu bia sản xuất trong nước, trong năm 2010, đã có hơn 2,7 tỷ lít bia được tiêu thụ.
Sức tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường bia đã khiến nhiều nhà sản xuất nước ngoài ngạc nhiên. Trong chuyến viếng thăm Công ty TNHH Nhà máy Bia Việt Nam (VBL) vào tháng 5 vừa qua, ông Michel de Carvalho, chủ sở hữu thương hiệu bia Heineken, tỏ ra kinh ngạc trước tốc độ tiêu thụ nhãn hiệu bia này tại Việt Nam!
Trong năm 2010, người Việt đã uống hơn 200 triệu lít bia Heineken, chỉ sau Mỹ, Pháp trong danh sách 170 thị trường trên thế giới mà dòng bia này có mặt.
Với tốc độ tiêu thụ này, ông Michel de Carvalho dự báo đến năm 2012, Việt Nam sẽ chiếm vị trí thứ hai của Pháp để trở thành thị trường tiêu thụ quan trọng của Heineken, chỉ xếp sau Mỹ. Và khả năng đến năm 2015 Việt Nam sẽ trở thành thị trường tiêu thụ bia Heineken... lớn nhất thế giới!
Trong tăng công suất, ngoài ồ ạt nhập
Sức hấp dẫn của thị trường bia Việt Nam thu hút hàng trăm nhà sản xuất bia với đủ quy mô lớn nhỏ, hình thức địa phương, tổng công ty, liên doanh, nước ngoài...
Theo thống kê của các công ty nghiên cứu thị trường, Việt Nam có khoảng 350 cơ sở sản xuất bia có trụ sở ở hầu khắp các tỉnh thành trên cả nước và tiếp tục tăng mạnh về số lượng.
Trong số này, có hơn 20 nhà máy đạt công suất trên 20 triệu lít/năm, 15 nhà máy có công suất lớn hơn 15 triệu lít/năm, và có tới 268 cơ sở có năng lực sản xuất dưới 1 triệu lít/năm.
Dù 350 cơ sở sản xuất bia cho thị trường 87 triệu dân là con số không nhỏ, nhưng các doanh nghiệp vẫn tiếp tục đầu tư, mở rộng hệ thống sản xuất của mình.
Từ đầu năm đến nay, hàng loạt các dự án xây dựng mới cũng như nâng cấp nhà máy bia đã ồ ạt diễn ra. Nổ phát pháo đầu tiên trong ngành này là Tổng công ty CP Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco).
Chỉ trong tháng 3, Sabeco đã đưa vào hoạt động ba nhà máy sản xuất tại Quảng Ngãi và Hà Nam với tổng vốn đầu tư trên 2.000 tỷ đồng, tổng công suất khoảng 300 triệu lít/năm.
Trước đó, vào tháng 2, Sabeco cũng đã khởi công dự án Nhà máy bia Sài Gòn - Hà Tĩnh công suất 50 triệu lít/năm với tổng mức đầu tư 480 tỷ đồng. Song song với những dự án đầu tư mới, Sabeco còn thực hiện việc nâng cấp các nhà máy cũ.
Trong đó, nhà máy bia Sài Gòn - Củ Chi nâng công suất lên 264 triệu lít, Nhà máy bia Sài Gòn - Vĩnh Long lên 200 triệu lít/năm. Với sự đầu tư đồng loạt này, trong năm tới, Sabeco sẽ đưa ra thị trường thêm 500 triệu lít bia các loại.
Lãnh đạo của đơn vị này cũng đã đưa ra mục tiêu tiêu thụ 1,3 tỷ lít bia trong năm 2011, và tăng lên 2 tỷ lít bia trong năm 2015.
Không mở nhà máy ồ ạt như Sabeco, nhưng trong năm nay, VBL cũng đầu tư, nâng cấp các nhà máy có sẵn để tăng lượng sản xuất.
Tháng 5 vừa qua, VBL đã chi hơn 68 triệu USD để nâng công suất của nhà máy tại TP.HCM từ 280 triệu lít lên 420 triệu lít, trở thành nhà máy sản xuất bia hiện đại và lớn nhất Việt Nam. Dự án này sẽ hoàn thành vào tháng 12 năm nay và sẽ giúp tăng năng suất của VBL lên 25%.
Cùng lúc đó, VBL cũng mở rộng năng lực sản xuất của hai nhà máy tại Hà Nội và Đà Nẵng lên 45 triệu lít. Dự án này cũng sẽ hoàn thành vào cuối năm nay. Sở dĩ VBL đầu tư mạnh vào sản xuất vì thị trường đang tăng trưởng mạnh.
Ông David Teng, Tổng giám đốc VBL, cho rằng: “với dân số 87 triệu người và sự gia tăng số người giàu có, nhất là trong thành phần trẻ, nhu cầu dùng bia ở Việt Nam đang tăng ở mức 2 con số và nhịp độ gia tăng này sẽ còn tiếp tục trong thời gian dài sắp tới”.
Trong khi các nhà máy liên tục đầu tư mở rộng sản xuất thì bia nhập khẩu cũng đổ bộ vào thị trường. Theo Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực I, lượng bia nhập khẩu năm 2010 tăng tới 50% so với năm 2009, lên đến 1,66 triệu sản phẩm (tính chung với mặt hàng rượu) đã được đưa ra thị trường.
Các loại bia như Corona, Budweiser, Bit Burger, Leffe Brown, Hoegaarden White, MOA, Cooper, Bavaria... xuất xứ Mexico, Đức, Bỉ, Hà Lan... dù có giá cao gấp 2-3 lần so với bia sản xuất trong nước nhưng vẫn được ưa chuộng tại các nhà hàng, khách sạn.
Tuy số lượng bia nhập khẩu chiếm tỷ trọng thấp nhưng theo đánh giá của nhiều chuyên gia cũng sẽ là đối thủ đáng gờm cho các nhà sản xuất trong tương lai.
“Bia nội” giữ thế chân vạc
Nếu gọi các loại bia sản xuất trong nước là “bia nội” thì hiện nay, bia nội đang thắng thế. Thị trường bia Việt Nam đang hình thành thế “chân vạc” với 3 doanh nghiệp lớn nhất là Sabeco, Habeco và VBL.
Với mức tiêu thụ 2,7 tỷ lít bia trong năm 2010 (khoảng 24 lít trên/đầu người/năm, bằng 1/10 so với châu Âu), Việt Nam đã trở thành nước thứ 3 có sản lượng tiêu thụ bia cao nhất châu Á, sau Nhật và Trung Quốc.
Cả ba doanh nghiệp này đang chiếm đến 95% thị phần trong cả nước mà đứng đầu là Sabeco (51,4%), kế đến là VBL (29,7%) và Habeco (13,9%).
Trong 2,7 tỷ lít bia được tiêu thụ năm 2010, đến 1,1 tỷ lít thuộc về Sabeco, 600 triệu lít thuộc Habeco và 700 triệu lít của VBL.
Với 1,1 tỷ lít bia được tiêu thụ, Sabeco không chỉ đứng đầu thị trường Việt Nam mà còn vươn lên vị trí thứ 21 trong số các doanh nghiệp sản xuất bia hàng đầu thế giới và Top 3 các nhà sản xuất bia Đông Nam Á.
Nếu chia thị trường bia theo phân khúc, Sabeco đang dẫn đầu dòng bia phổ thông và chiếm 35% lượng bia bán ra trên toàn thị trường. Trong khi đó, VBL đang nắm giữ 70% thị trường ở phân khúc cao cấp với nhãn hàng Heineken.
Kết quả khảo sát của Sabeco trong tháng 12/2010 về thị trường tiêu thụ bia cũng như thương hiệu bia được người tiêu dùng ưa chuộng nhất cũng cho thấy sự chiếm giữ thị trường của 3 “đại gia” này.
Tại 36 thành phố trong cả nước, bia Sài Gòn Đỏ chiếm 28,1% thị phần, bia 333 chiếm 16%, bia Hà Nội 11,4% và Heineken (10% đối với lon và 6,8% đối với loại chai).
Nằm trong top 10 sản phẩm bia được tiêu thụ nhiều nhất còn có sự góp mặt của Saigon Lager, Bierre Larue, Tiger (chai, lon), Saigon Special. Như vậy, trong 10 dòng sản phẩm tiêu thụ mạnh nhất thì có đến 5 sản phẩm thuộc VBL và 4 sản phẩm của Sabeco.
Dù thế chân vạc đã rõ nhưng các doanh nghiệp vẫn lo ngại về sự xuất hiện quá mạnh của bia nhập khẩu. Hiện nay, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng này là 45% nhưng số lượng bia nhập khẩu đã khá nhiều.
Vào năm 2012, khi mức thuế này giảm xuống còn 30% thì bia ngoại sẽ tràn ngập thị trường. Và như vậy, cuộc cạnh tranh giành miếng bánh thị phần sẽ càng khốc liệt hơn trong thời gian tới. 

Giới thiệu với bạn về cái chết của những thương hiệu vang bóng

Ngay khi ra mắt, Tân Hiệp Phát đã thực hiện một chiến lược quảng bá rầm rộ với chi phí lên đến 3 triệu USD. Tuy nhiên, chỉ sau gần một năm gia nhập thị trường, Tân Hiệp phát đã phải ngừng sản xuất vì không thể vào được kênh Horeca (nhà hàng, khách sạn, khu nghỉ dưỡng, quán cà phê cao cấp) - kênh dành cho các loại bia cao cấp.
Hiện nay, cuộc cạnh tranh của thị trường bia đang gay gắt giữa các nhãn hiệu trong và ngoài nước ở phân khúc trung và cao cấp.
Không giống các thương hiệu truyền thống trong nước như bia Sài Gòn, 333, Hà Nội..., các thương hiệu nước ngoài thâm nhập thị trường sau, cùng với việc kém lợi thế về chi phí (vì không có lợi thế quy mô) và định vị thương hiệu cao (nhất quán với định vị toàn cầu), đã tập trung chủ yếu vào các phân khúc trung và cao cấp.
Các tập đoàn lớn khi vào Việt Nam đều chọn phân khúc này. Nếu như VBL có Tiger, Heineken và Foster’s thì SABmiller có Zorok và Miller, Công ty Bia San Miguel có San Miguel...
Trước sự “bành trướng” của nhãn hiệu bia cao cấp đến từ nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước đã không thể bỏ trống phân khúc béo bở này.
Habeco đã liên doanh Tập đoàn Carlsberg và Công ty Sành sứ Thủy tinh Việt Nam thành lập Công ty bia Hà Nội - Vũng Tàu để sản xuất Carlsberg.
Trong khi đó, Sabeco cũng hướng đến phân khúc này bằng sản phẩm Saigon Special. Đây là sản phẩm được đầu tư từ công nghệ sản xuất cho đến mẫu mã bao bì và được định vị dành cho giới trẻ thành công.
Trước đây, Tân Hiệp Phát cũng tham gia thị trường này với dòng bia cao cấp Laser.
Ở một mặt nào đó, sự “xôm tụ” này đã mang đến cho người tiêu dùng nhiều sự lựa chọn hơn. Nhưng đối với các nhà sản xuất, để có chỗ đứng trên thị trường với nhiều đối thủ cạnh tranh như vậy quả là điều không dễ dàng.
Vì thế, ngoài sự trụ vững và ngày càng lên ngôi của các thương hiệu 333, Heineken, bia Sài Gòn, bia Hà Nội..., thị trường bia Việt Nam cũng chứng kiến sự đào thải của những thương hiệu một thời vang bóng như Foster, BGI, Laser.
Ông Nguyễn Trung Thẳng, Chủ tịch Masso Consulting, cho rằng, trong một thị trường cạnh tranh càng gay gắt như thị trường bia Việt Nam thì nguy cơ thất bại cho các thương hiệu mới càng cao.
“Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại như định vị sai, sản phẩm không hợp gu của người Việt, rào cản kênh phân phối... và hiển nhiên bao gồm cả năng lực tài chính, đặc biệt là ở phân khúc trung và cao cấp”, ông Thẳng phân tích.
Nếu như Heineken khẳng định với lợi thế về thương hiệu, 333/Sài Gòn khẳng định lợi thế về kênh phân phối và định vị sản phẩm hợp lý, thì các đối thủ đã thất bại trong so sánh với họ.
Foster’s đã không thành công trong phân khúc cao cấp như Heineken với định vị “uống bia kiểu Úc” và Laser đã không chuyển tải được lợi thế duy nhất “bia tươi đóng chai” đến người tiêu dùng.
Chết héo bia tươi và SABMiller “thử mù”
Trong cuộc cạnh tranh khắc nghiệp này, nhiều thương hiệu đã bị loại khỏi cuộc chơi và trở thành bài học đắt giá cho các doanh nghiệp ngành bia.
Trường hợp điển hình là bia Laser của Tân Hiệp Phát. Sau thành công của nước tăng lực Number One, Tân Hiệp Phát đã đầu tư 200 triệu USD để sản xuất bia tươi đóng chai Laser. Đây được xem là loại “bia tươi đóng chai lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam”, với mức giá cao hơn Tiger và ngang ngửa với Heineken.
Ngay khi ra mắt, Tân Hiệp Phát đã thực hiện một chiến lược quảng bá rầm rộ với chi phí lên đến 3 triệu USD. Tuy nhiên, chỉ sau gần một năm gia nhập thị trường, Tân Hiệp phát đã phải ngừng sản xuất vì không thể vào được kênh Horeca (nhà hàng, khách sạn, khu nghỉ dưỡng, quán cà phê cao cấp) - kênh dành cho các loại bia cao cấp.
Theo ông Thẳng, thế mạnh của các thương hiệu trong nước là hiểu rất rõ khẩu vị và văn hóa uống bia của người Việt, cũng như tập quán kinh doanh bia của kênh phân phối. Tuy nhiên, điều đó không đủ để thành công nếu không chuyển tải sự am hiểu đó thành hành động và chiếm giữ lợi thế cạnh tranh.
Doanh nghiệp lớn nhất trong thị trường bia Việt Nam là Sabeco, Habeco và VBL. Cả ba doanh nghiệp này đang chiếm đến 95% thị phần trong cả nước mà đứng đầu là Sabeco (51,4%), kế đến là VBL (29,7%) và Habeco (13,9%)
Nếu chia thị trường bia theo phân khúc, Sabeco đang dẫn đầu dòng bia phổ thông và chiếm 35% lượng bia bán ra trên toàn thị trường. Trong khi đó, VBL đang nắm giữ 70% thị trường ở phân khúc cao cấp với nhãn hàng Heineken.
Bài học thất bại của Laser là thực hiện quảng bá không đúng, không nhất quán, lại không có đủ năng lực tài chính để theo đuổi đến cùng. Bia tươi cao cấp hơn bia đóng chai nhưng trong suy nghĩ của người tiêu dùng lúc ấy, bia tươi cũng như bia hơi bán đầy trong các quán nhậu bình dân, là bia lề đường.
Vì thế, khi Tân Hiệp Phát tung ra Laser, người tiêu dùng cứ đánh đồng với bia hơi nên khó tiêu thụ. Đã vậy, kênh Horeca cũng bị bia Heineken của VBL “trấn giữ” nên Tân Hiệp Phát đành phải đưa Laser ra ngoại thành.
Giá như lúc ấy Tân Hiệp Phát dùng kinh phí quảng cáo để thực hiện PR tuyên truyền giúp người tiêu dùng hiểu rõ hơn về loại bia này và trường vốn hơn nữa thì đã khác! Theo các chuyên gia, định vị trong phân khúc trung và cao cấp đòi hỏi phải bền bỉ về thời gian và năng lực tài chính đủ mạnh để bù lỗ cho thời gian đầu.
Ngược lại với Laser, thất bại của Foster’s được xem là một bài học của sự không am hiểu “gu” uống bia của người Việt. Ngoài ra, sự khập khiểng trong khâu phân phối và sự “chưa mở lòng” của người tiêu dùng đối với bia cao cấp nước ngoài cũng đã góp phần gây thất bại cho Foster’s.
Trong khi các đối tác mà Foster’s tham gia liên doanh (Nhà máy Bia Tiền Giang và nhà máy Bia Đà Nẵng) đều có sản phẩm thuộc phân khúc phổ thông thì bia Foster’s lại được định vị ở phân khúc cao cấp.
Chính sự khập khiễng giữa hai phân khúc này nên đã gây không ít khó khăn trong phân phối bia Foster’s. Hơn nữa, vào thời điểm năm 1998, các thương hiệu quốc tế cao cấp vẫn chưa được người tiêu dùng Việt Nam đón nhận.
Vì thế, sau gần 10 năm (1997 - 2007) cố gắng khẳng định vị thế, Foster’s đã thất bại ở thị trường Việt Nam. Họ đã phải chuyển nhượng lại toàn bộ hệ thống ở Việt Nam cho APB với giá trên 105 triệu USD (APB bán lại cho VBL, liên doanh mà APB đang nắm 60% cổ phần).
Trong khi đó, SABmiller lại là một trường hợp thất bại khác. Năm 2006, Công ty Vinamilk đã liên doanh với Tập đoàn SABmiller để thành lập Công ty SABmiller Việt Nam. Nhà máy bia SABmiller đặt tại Bình Dương với công suất 100 triệu lít/năm đã được khánh thành vào tháng 3/2007.
Tuy nhiên, bia Zorok còn khá mới tại thị trường Việt Nam vốn đã có nhiều nhãn hiệu khác trên thế giới như Tiger, Heineken, San Miguel... Hơn nữa, cũng khó để dựa vào hệ thống phân phối sữa để bán bia nên chỉ sau hơn 2 năm hoạt động, Vinamilk đã nhượng lại toàn bộ cổ phần của mình cho SABmiller.
Hiện nay, SABmiller, ngoài bia Zorok đã có thêm bia Miller nhưng xem ra thị phần của hãng này tại Việt Nam vẫn chưa tăng mấy, dù rằng đây là tập đoàn sản xuất bia lớn nhất thế giới với 200 nhãn hiệu bia phân phối tại 60 quốc gia. Rút bài học thất bại, theo thông tin nắm được, hiện SABMiller đang ráo riết tiến hành một chiến dịch mới trên thị trường bia.
Không đem những nhãn hiệu sẵn có vào Việt Nam nữa, trong gần 1 năm qua, SABMiller âm thầm nghiên cứu, khảo sát nhu cầu cũng như khẩu vị của người tiêu dùng Việt Nam để cho ra một dòng sản phẩm bia hoàn toàn mới, mang một nhãn hiệu mới.
Được biết, tập đoàn bia này đã bỏ ra hơn 500 ngàn USD chỉ dùng cho việc khảo sát thị hiếu của người tiêu dùng Việt Nam. Để đảm bảo độ an toàn cao về khẩu vị, ngoài các phương pháp khác, SABMiller đã tiến hành phương pháp “thử mù” trên 1.000 người.
Tức là, từng người sẽ bị bịt mắt sau đó cho thử nhiều loại bia khác nhau mà hoàn toàn không biết nhãn hiệu. Sau đó sẽ tổng kết lại để cho ra tỷ lệ ưa thích hương vị bia nào cao nhất. Được biết, nhãn hiệu bia mới của SABMiller sẽ được tung ra trong năm tới. 

Dự báo cho Kinh tế 2012: Khó hơn cho doanh nghiệp

Dễ thấy năm 2011, đầu tư của doanh nghiệp không lớn, chủ yếu là chống đỡ để tồn tại thì năm 2012 còn thắt chặt thì vốn chưa đưa ra được nhiều thì cũng chưa thấy dấu hiệu nào khả quan hơn. Kinh tế thế giới chưa hồi phục nhanh, lại còn nhiều nguy cơ đe dọa suy thoái, tiếp tục khủng hoảng. Cho nên năm 2012 sẽ là năm đặc biệt khó khăn.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 9 tháng đầu năm 2011, đã có 48.700 doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng hoạt động; trong đó giải thể 5.803 doanh nghiệp, ngừng hoạt động là 11.421 và 31.477 doanh nghiệp đã dừng nộp thuế nhưng chưa đăng ký giải thể.
Tình hình kinh tế năm 2012 có dấu hiệu khả quan hơn hay không? Y kiến của 3 đại biểu Quốc hội về vấn đề này.
ĐB Cao Sĩ Kiêm (Thanh Hóa), chủ tịch hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam: “Khó hơn cả năm 2011”
Năm 2012, tôi cho là tình hình cả trong nước và quốc tế sẽ tác động làm khó hơn cho doanh nghiệp năm 2012, khó hơn năm 2011.
Thứ nhất là các tác động của chính sách thắt chặt tiền tệ, tài khóa năm 2011 sẽ có độ trượt sang năm 2012. Đầu tư không ra nhiều, yếu tố tạo phát triển năm 2012 là khó, kể cả từ ngân sách và từ khối doanh nghiệp.
Dễ thấy năm 2011, đầu tư của doanh nghiệp không lớn, chủ yếu là chống đỡ để tồn tại thì năm 2012 còn thắt chặt thì vốn chưa đưa ra được nhiều thì cũng chưa thấy dấu hiệu nào khả quan hơn. Kinh tế thế giới chưa hồi phục nhanh, lại còn nhiều nguy cơ đe dọa suy thoái, tiếp tục khủng hoảng. Cho nên năm 2012 sẽ là năm đặc biệt khó khăn.
Năm 2011, số doanh nghiệp thua lỗ, phá sản, giải thể đã lớn thì năm 2012, tôi e là số lượng nhiều hơn. Nên phải củng số, sắp xếp lại mạnh mẽ hơn.
Tôi nghĩ các chính sách thắt chặt tiền tệ, đầu tư công đã bước đầu có chuyển biến tốt, nên làm tiếp để hạ lạm phát xuống. Đó sẽ là tiền đề để giảm lãi suất xuống. Doanh nghiệp sẽ tiếp cận được vốn tốt hơn, tạo khả năng hồi phục cho doanh nghiệp.
Năm nay, số thu ngân sách tăng cao, tôi cho là có nhiều lĩnh vực nhà nước đã tận thu, chủ yếu ở khối doanh nghiệp. Cái giảm, giãn thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2011 chỉ có mức độ vì có thu nhập mới phải nộp. Người có thu nhập cao là rất ít.
Theo tôi, sang năm, một mặt chỗ nào thất thu thì phải tăng thu nhưng chỗ nào đang tận thu thì giảm xuống.
Ông Bùi Đức Thụ, vụ trưởng vụ Tài chính-ngân sách, Văn phòng Quốc hội: “Chủ động điều chỉnh, cơ cấu ngân hàng tránh hậu quả phức tạp”
Năm 2012, Quốc hội, Chính phủ dự kiến tiếp tục định hướng xiết chặt chính sách tiền tệ, tài khóa để ổn định kinh tế vĩ mô, cắt giảm chi tiêu công dẫn đến lãi suất tín dụng còn cao. Cái này sẽ là áp lực với các doanh nghiệp.
Việc tăng chi phí sẽ buộc nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp qui mô sản xuất, tăng chi phí và giảm lợi nhuận, thậm chí có một bộ phận doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng thua lỗ, phá sản dẫn đến nguy cơ tỷ lệ thất nghiệp tăng lên.
Một bộ phận doanh nghiệp không trả được vốn vay do thua lỗ sẽ tác động đến hiệu quả hoạt động, tăng tỷ lệ nợ xấu ở các tổ chức tín dụng, làm xấu đi tính thanh khoản hệ thống ngân hàng.
Tôi cho rằng Chính phủ phải theo dõi, kiểm tra sát các doanh nghiệp, hệ thống ngân hàng để sớm có biện pháp điều chỉnh, không để xảy ra hậu quả xấu, làm tình hình phức tạp hơn.
Tôi biết rằng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã chủ động theo dõi nhưng một số ngân hàng nhỏ vẫn đang gặp khó khăn trong đảm bảo tính thanh khoản trong từng thời điểm.
Do thắt chặt tiền tệ nên nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận vốn, phải huy động từ các nguồn tín dụng đen, lãi suất rất cao. Theo tôi, phải tăng cường xử lý các tổ chức, cá nhân cho vay nặng lãi để ổn định tình hình..
Lãi suất cho vay chỉ giảm khi lạm phát giảm. Đang kiềm chế lạm phát, thắt chặt tiền tệ thì lãi suất bị tăng lên. Tuy nhiên, với lượng cung tiền tệ, mức cung tín dụng cho phép để giảm lãi suất thì phải điều chỉnh cơ cấu tín dụng một cách hợp lý.
Tôi cho rằng, Ngân hàng Nhà nước cần kiên quyết điều hành giảm quy mô tín dụng vào những lĩnh vực không hiệu quả, không nên khuyến khích như bất động sản, chứng khoán… để dồn tiền cho những lĩnh vực cần vốn hơn như nông nghiệp, sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu… để có điều kiện hạ lãi suất một cách hợp lý hơn.
ĐB Nguyễn Thị Nguyệt Hường (Hà Nội), chủ tịch tập đoàn Đầu tư và phát triển Việt Nam: "Cần giảm bớt thuế thu nhập doanh nghiệp"
Năm 2012, khối doanh nghiệp sẽ còn phải đối mặt với nhiều khó khăn nhất định như lạm phát hiện còn ở mức cao. Có thể năm 2012, giảm được lạm phát xuống một con số không phải là điều đơn giản, đòi hỏi nỗ lực từ nhiều phía.
Tuy nhiên, tình hình cũng có những điểm sáng nhất định như mức tăng CPI trong mấy tháng cuối năm đã giảm đi. Đây là điều đáng mừng vì CPI giảm đi thì nó có cơ hội và điều kiện để lãi suất cho vay giảm xuống.
Về phía ngân hàng thì lãi suất đầu vào được khống chế, giảm còn 14% thì chi phí vốn vay của doanh nghiệp rẻ hơn. Tôi hy vọng Chính phủ, ngân hàng Nhà nước điều hành quyết liệt hơn để trong năm 2012 tạo ra niềm tin, động lực cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn, tiếp tục sản xuất, kinh doanh.
Về chính sách thuế, tôi đồng ý quan điểm của ủy ban Kinh tế Quốc hội là năm tới phải cân nhắc để cân đối tỷ lệ động viên vào ngân sách ở mức hợp lý để đảm bảo tỷ lệ đầu tư và tiết kiệm của người dân.
Nếu tỷ lệ tiết kiệm của người dân, doanh nghiệp được cân đối tốt hơn thì tăng khả năng chống đỡ trong lúc khó khăn này. Chúng ta phải quan tâm đến khả năng chống đỡ, chịu đựng của doanh nghiệp.
Theo tôi, nhà nước nên tính toán, giảm bớt tỷ lệ huy động từ thuế vào ngân sách, như thuế thu nhập doanh nghiệp hiện nay là 25% thì có thể giảm xuống cũng là một cách hỗ trợ trực tiếp và kịp thời cho doanh nghiệp lúc này.

Khám phá sự việc chỏng chơ chờ “chân chính”

“Phải thừa nhận, việc chưa có sự xác định rõ ràng trong vấn đề thế nào là DN quảng cáo cũng là tác nhân làm cho việc quảng cáo thiếu tính chuyên môn. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngày càng nhiều bảng quảng cáo được dựng không phép. Làm mất tính cạnh tranh lành mạnh đối với các DN làm ăn chân chính trong ngành”, ông Cường nhận định.
Ông Trần Văn Nghiệp, Giám đốc Công ty CP Quảng cáo Sài Gòn, cho biết, sự sụt giảm của quảng cáo ngoài trời có nhiều nguyên nhân.
Ngoài nguyên nhân chính là khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng đến tình hình quảng cáo Việt Nam, bởi khoảng 80% khách hàng quảng cáo của Việt Nam đến từ nước ngoài. Điển hình là Unilever Việt Nam giảm gần 50 - 60 % chi phí quảng cáo.
Do đó, có không ít bảng quảng cáo các sản phẩm Unilever hiện còn để trống. Ngoài ra, còn có đến vài trăm trụ quảng cáo ngoài đường chủ yếu phục vụ các hoạt động xã hội, còn để trống.
Còn theo ông Nguyễn Duy Cường, Chủ nhiệm CLB Quảng cáo ngoài trời, Giám đốc Công ty Quảng cáo Thái Bình Dương (Pacific Outdoor), mặc dù Pacific Outdoor đã có thâm niên trong lĩnh vực quảng cáo ngoài trời nhưng cũng bị cắt giảm 30 - 40% lượng khách hàng.
Vì thế, không chỉ những tuyến đường Xa lộ Hà Nội hay Quốc lộ 51, mà ngay trong nội thành thành phố cũng xuất hiện ngày càng nhiều bảng trắng.
Theo một thống kê không chính thức, doanh thu toàn ngành quảng cáo năm 2010 đạt khoảng 1 tỷ USD. Trong đó, khoảng 80% doanh thu từ quảng cáo trên báo, đài, sự kiện; khoảng 20% thuộc về quảng cáo ngoài trời.
Tuy nhiên, có thể chia quảng cáo ngoài trời thành 4 loại: quảng cáo tầm cao (billboard); quảng cáo tầm thấp (tại các nhà chờ xe buýt); quảng cáo di động (transit), thực hiện trên các phương tiện vận tải; và quảng cáo thể hiện qua các poster, brochure, leaflet...
Mặc dù việc phân loại khá rõ ràng, thế nhưng, phần đông các DN trong ngành quảng cáo có xu hướng kinh doanh về quảng cáo ngoài trời hơn, bởi dễ làm, lợi nhuận cao, rủi ro ít... điều này đã dẫn đến tình trạng “bội thực” của các nhà cung cấp sản phẩm quảng cáo ngoài trời.
Mới đây, dự thảo Luật Quảng cáo được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xây dựng để trình Quốc hội vào tháng 10. Tuy nhiên, đứng trước dự luật này, một số DN trong ngành kiến nghị không nên quy họach theo địa điểm như trước đây mà nên theo khu vực.
Bởi vì, hiện vẫn chưa có mức giá chung giữa các chủ nhà và DN quảng cáo nên vấn đề làm giá là điều khó tránh. Điển hình, vị trí ngã sáu Phù Đổng (Q.1, TP.HCM), lúc trước giá thuê chỉ khoảng 120 triệu đồng đến nay đã bị nâng lên 1 tỷ đồng.
Và cũng vì lý do quy hoạch nên đôi khi mức giá cho thuê còn hơn cả giá trị thực của căn nhà. Do đó, việc mở rộng ra khu vực quy hoạch sẽ ít xảy ra vấn đề cạnh tranh hơn.
“Phải thừa nhận, việc chưa có sự xác định rõ ràng trong vấn đề thế nào là DN quảng cáo cũng là tác nhân làm cho việc quảng cáo thiếu tính chuyên môn. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngày càng nhiều bảng quảng cáo được dựng không phép. Làm mất tính cạnh tranh lành mạnh đối với các DN làm ăn chân chính trong ngành”, ông Cường nhận định.
Theo ông Nghiệp, trong khi tâm lý của các khách hàng hiện nay đang hướng vào tính tiện ích, chuyên sâu của việc chọn địa điểm quảng cáo ngoài trời.
Vì một phần họ ngại yếu tố quy hoạch, một phần do kinh phí hạn hẹp, nên khách hàng ưu tiên cho những vị trí chiến lược, đầu tư lâu dài, chứ không như trước đây.
Do đó, họ cần những con số khảo sát nhu cầu người tiêu dùng, thì các DN quảng cáo Việt Nam vẫn chưa chú trọng nhiều đến yếu tố này. Đây chính là yếu điểm của các DN nội. 

Giới thiệu với bạn về nhiên liệu sinh khối: Sinh tiền tấn

Tuy nhiên, theo ông Thành, so với tiềm năng thì Việt Nam chỉ mới chỉ cung cấp 600.000 tấn/năm để xuất khẩu ra nước ngoài. Còn thực tế, chưa xuất khẩu được vì hầu hết các nhà sản xuất Việt Nam chưa hiểu hiều rõ tiêu chí cũng như yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm. Thực tế, các nhà sản xuất hiện nay vẫn còn nhỏ lẻ, hoạt động manh mún.
Nhu cầu về nhiên liệu sinh khối từ châu Âu, Nhật Bản tăng vọt đã có tác động không nhỏ tới thị trường này tại Việt Nam. Mùn cưa, vỏ trấu, bã mía... đột ngột trở thành những mặt hàng nhiều giá trị.
Mùn cưa ép thành... vàng
Liên tiếp trong tháng qua, văn phòng của Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (HAWA) nhận được các lời chào mua thu gom tất cả phế phẩm mùn cưa của tất cả thành viên HAWA, với đơn chào lên đến hơn 10.000 tấn mùn cưa mỗi tháng!
Tất nhiên, HAWA không thể gom đủ số lượng này nên khách hàng sốt ruột muốn mua hết cả các loại dăm, bào, gỗ vụn, giá tùy thỏa thuận, có thể lên đến 500.000 đồng/tấn mùn cưa.
Đơn hàng đến từ một công ty tại TP.HCM. Mùn cưa sau khi thu mua được chuyển tới nhà máy tại Bình Dương để nén thành viên, đóng gói bán sang các thị trường châu Âu, Nhật Bản. Được biết, viên nén mùn cưa được thế giới xem như một dạng nhiên liệu sinh khối thay thế dầu, khí ga, than đá....
Nenryo cũng là một công ty thương mại kinh doanh mùn cưa từ nhiều năm nay. Theo ông Phạm Phú Thành, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Nenryo, trong các dạng năng lượng sạch dành cho nhiệt điện, vỏ trấu cũng như mùn cưa là nguyên liệu có giá trị rất cao và có rất nhiều tại Việt Nam.
Số liệu của Nenryo cho thấy, ở Việt Nam lượng phụ phẩm như vỏ trấu là 6,8 triệu tấn/năm trong đó riêng ĐBSCL chiếm 3,7 triệu tấn; phụ phẩm mùn cưa là 5,8 triệu tấn/năm trong đó riêng Tây Nguyên chiếm 2,5 triệu tấn, miền Trung chiếm 1,15 triệu tấn/năm.
Đa số viên nén sản xuất tại Việt Nam và các nước trong khu vực đều xuất khẩu vào châu Âu và Nhật. Đây là những thị trường có nhu cầu rất lớn về nhiên liệu sinh khổi bởi họ đã đổi mới công nghệ và bắt đầu lộ trình sử dụng năng lượng bền vững.
Riêng tại Việt Nam cũng có nhiều các dự án nhiệt điện sử dụng rác thải trong quá trình sản xuất mía đường như: Nhà máy nhiệt điện Lam Sơn - tận dụng nguyên liệu từ quá trình sản xuất mía đường của Công ty CP Mía đường Lam Sơn...
“Thu mua sản phẩm này rất khó khăn vì các nhà máy sản xuất nằm riêng lẻ với công suất thấp, khoảng 500 - 1.000 tấn, tối đa là 2.000 -3.000 tấn, trong khi các đơn mua hàng thường đặt khoảng 10.000 -20.000 tấn.
Theo giá tham chiếu của châu Âu thì giá bán nguyên liệu phải có đủ Chứng chỉ FSC (Chứng chỉ trồng, quản lý và khai thác rừng bền vững), nhưng các nhà cung cấp ở Việt Nam lại hầu hết không có chứng chỉ này nhưng giá bán lại lấy giá tham chiếu làm chuẩn”, ông Thành cho biết.
Để gom đủ số lượng, nhà máy phải huy động nhiều đầu mối thu gom mùn cưa từ Bình Dương, Đồng Nai cho đến Đắc Lắc. Giá thu mua mùn cưa đã chế biến khoảng 500.000đ/tấn, nhưng sau khi xử lý nén và đóng gói có thể xuất FOB với giá lên tới hơn 300 USD/tấn.
Tuy nhiên, theo ông Thành, so với tiềm năng thì Việt Nam chỉ mới chỉ cung cấp 600.000 tấn/năm để xuất khẩu ra nước ngoài. Còn thực tế, chưa xuất khẩu được vì hầu hết các nhà sản xuất Việt Nam chưa hiểu hiều rõ tiêu chí cũng như yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm. Thực tế, các nhà sản xuất hiện nay vẫn còn nhỏ lẻ, hoạt động manh mún.
Đa phần nhập máy Trung Quốc vì sản xuất và không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật khi xuất khẩu vào Nhật hay thị trường châu Âu nên mất khả năng cạnh tranh...
Chẳng hạn, theo tiêu chuẩn châu Âu, hàm lượng tro đối với sản phẩm viên nén gỗ là 0,3 - 0,5%, nhưng khả năng cung cấp của Việt Nam là 1,5 - 2% nên châu Âu không nhập. Hoặc độ ẩm sản phẩm viên nén gỗ, yêu cầu của chấu Âu và Nhật là 4 - 6% nhưng sản phẩm của Việt Nam tới 7 - 8%.
Theo ông Thành, nếu xuất một lượng lớn mùn cưa từ 10.000 tấn/tháng sang Nhật sẽ đòi hỏi phải xuất trình được chứng chỉ FSC. Nếu có chứng chỉ trồng rừng và đạt các tiêu chuẩn liên quan đến môi trường thì giá mùn cưa có thể lên đến 400 – 500USD/tấn.
Theo tính toán, mùn cưa dùng trong nhiên liệu công nghiệp khá hiệu quả. Với lò hơi, việc từ than đá chuyển sang dùng củi mùn cưa chi phí có thể giảm đến hơn 50%. Từ dầu FO chuyển sang củi ép mùn cưa, chi phí có thể giảm đến 70%. Nếu sản xuất 2,5 tấn mùn cưa thành nhiên liệu đốt trong nước, Việt Nam giảm nhập khẩu khoảng 1.000 lít dầu.
Để có được FSC, nhiều nhà đầu tư tại Việt Nam sẵn sàng bỏ ra hàng trăm ngàn đến cả triệu USD để hợp tác với các nhà trồng rừng tại Việt Nam.
Được biết, Nenryo cũng đang đàm phán bước đầu với các nhà trồng rừng tại Đắc Nông và Bình Dương, cùng với kế hoạch xây dựng các nhà máy ép mùn cưa tại Thanh Hóa, Hải Phòng.
Theo ông Ngụy Như Trọng, Giám đốc Công ty Phúc Nguyên, thị trường nguyên liệu sinh khối bao gồm mùn cưa, bã mía, vỏ cà phê có nhu cầu rất lớn.
Hiện nay, Phúc Nguyên xuất hàng vào thị trường Đức, Ba Lan, Hà Lan... mỗi tháng khoảng vài ngàn tấn. Giá giao động từ 220 - 250 USD /1 tấn, tùy thuộc vào thị trường EU hay châu Á.
Còn theo ông Phạm Bành Tiến, Giám đốc Công ty Hùng Đại Dương, nhu cầu thị trường thì rất lớn, nhưng tìm nguồn nguyên liệu không phải là dễ, khách hàng cung cấp loại nguyên liệu này không phải thường xuyên mà theo thời vụ.
Do đó, doanh nghiệp gặp khó khăn khi nhận đơn hàng lớn, đảm bảo số lượng đã ký hợp đồng. Ngoài ra, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này gặp khó khăn khi văn bản pháp luật chưa quy định rõ ràng về mã ngành này mà chủ yếu đăng ký với lĩnh vực kinh doanh: phế phẩm từ nông lâm sản.
Điều này, gây khó khăn khi doanh nghiệp tiếp xúc với khách hàng lớn trong khi lĩnh vực hoạt động không rõ ràng, đăng ký thì trong bảng mã ngành kinh tế quốc dân chưa có. 

Khám phá vấn đề tôi vẫn còn nợ Việt Nam

Từ đầu năm đến nay, chúng tôi chỉ mới tăng giá 1 lần khoảng 7-9%. Cá nhân tôi nghĩ thế này, khi Chính phủ và cả người dân đang đặt quá nhiều lo lắng cho nền kinh tế đang suy thoái, ở vị trí của doanh nghiệp, việc kìm nén hoặc giảm lợi nhuận để giúp bình ổn thị trường, sâu xa hơn là bình ổn xã hội là điều hết sức cần thiết. Tôi nói điều này từ tâm của mình chứ không cần phải hoa mỹ gì cả, bởi khi chọn về Việt Nam, tôi chọn cống hiến.
Tiến sĩ Chris Quach, Việt kiều Mỹ, cho biết khi chọn về Việt Nam, ông chọn cống hiến chứ không đơn thuần chỉ là kinh doanh.
Tiến sĩ Chris Quach, Việt kiều Mỹ.
Tiến sĩ Chris Quach, Việt kiều Mỹ, được đào tạo bài bản trong lĩnh vực kế toán, tài chính, ngân hàng. Ông đã tốt nghiệp Tiến sĩ Quản trị Kinh doanh tại Đại học Nam California (Mỹ). Trước khi về Việt Nam, ông có hơn 15 năm làm Giám đốc vùng, phụ trách lĩnh vực kinh doanh, tài chính của ngân hàng Lippo (Singapore) ở Mỹ. Tuy nhiên, khi quyết định về nước sinh sống và làm việc, ông chọn lĩnh vực dinh dưỡng để kinh doanh.
Ông thành lập Công ty Dược 3A và được Abbott chọn làm nhà phân phối độc quyền sản phẩm sữa của Tập đoàn tại Việt Nam. Ông giải thích: “Khoảng năm 1993, số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới cho thấy, tuổi thọ trung bình của người Việt chỉ 63 tuổi, 53% người Việt bị suy dinh dưỡng và Việt Nam là 1 trong 12 quốc gia có tỉ lệ chết yểu cao nhất thế giới. Những con số này thôi thúc tôi hãy trở về Việt Nam và chọn một sản phẩm dinh dưỡng để bắt đầu”.
Làm sao để một công ty đa quốc gia của Mỹ lại chọn một người Việt làm nhà phân phối chỉ ngay sau khi mở cửa?
Năm 1994, khi Mỹ tháo bỏ lệnh cấm vận, tôi quyết định phải về Việt Nam. Lúc đó, công việc của tôi tại Mỹ đang rất tốt, điều hành một ngân hàng thương mại của Singapore ở Mỹ với lượng giao dịch lên đến hàng triệu USD mỗi ngày. Tôi nộp hồ sơ khoảng 20 tập đoàn, công ty về lĩnh vực dược, dinh dưỡng của Mỹ để xin làm nhà phân phối cho sản phẩm của họ tại Việt Nam. Cuối cùng, có 6 công ty chọn tôi làm nhà phân phối, trong đó, có Abbott. Thật ra, ban đầu tôi quan tâm đến Tập đoàn Wyeth hơn, bởi đây là tập đoàn lớn đứng thứ ba ở Mỹ. Tuy nhiên, khi tham gia phỏng vấn tại Abbott, tôi được họ chọn và tôi đã đồng ý ngay bởi tôi có ấn tượng tốt với sản phẩm dinh dưỡng của tập đoàn này.
Họ hỏi tôi mục đích tại thị trường Việt Nam là làm gì? Tôi cho biết mình có lối suy nghĩ toàn cầu nhưng hành động mang tính địa phương. Tôi biết khá rõ thị trường sữa bột tại Việt Nam với các nhãn hàng Mejii (Nhật), Similac (Mỹ), Guigoz (Hà Lan), Dumex (Đức)… tại thị trường miền Nam Việt Nam trước năm 1975 thế nào, người tiêu dùng Việt đã yêu chuộng các sản phẩm này từ mấy mươi năm trước ra sao. Tôi nói bản thân muốn trở thành nhà tiếp thị tốt cho sản phẩm và giúp giảm chỉ số suy dinh dưỡng cho trẻ em Việt Nam xuống mức thấp nhất.
Vậy chiến lược kinh doanh đầu tiên ông áp dụng tại thị trường Việt Nam là gì?
Làm sao có thể bán ngay một sản phẩm với giá cao mà tại thời điểm đó, khi sữa chưa phải là mặt hàng người dân dễ tiếp cận? Rất nhiều năm sau đó, chúng tôi hoạt động tại Việt Nam không chỉ bằng vai trò một nhà kinh doanh mà là nhà giáo dục. Chúng tôi mang nhiều tài liệu về dinh dưỡng, tổ chức các buổi hội thảo, mời các chuyên gia dinh dưỡng hàng đầu của Mỹ về Việt Nam nói chuyện với các y bác sĩ tại bệnh viện, trường đại học y dược.
Đề tài chúng tôi đưa ra không chỉ là dinh dưỡng đầy đủ mà là cân bằng dinh dưỡng như thế nào. Có thể nói, những buổi hội thảo này như một luồng gió mới trong cộng đồng y tế Việt Nam tại thời điểm đó. Sản phẩm đầu tiên tôi mang về là sữa bột cho trẻ sinh thiếu tháng, sinh non và được tặng cho các bệnh viện phụ sản.
Không nâng giá vào lúc thị trường sữa đều đồng loạt tăng, nhưng các nhà bán lẻ nhận xét, một số nhãn sữa của Công ty được tăng giá một cách lặng lẽ sau đó?
Phản hồi của các nhà bán lẻ không sai, nhưng thực tế, việc không nâng giá vào thời điểm thị trường đang tăng khiến Công ty thiệt thòi hơn là lợi. Vì nếu chúng tôi tăng giá trong một thị trường đồng loạt tăng sẽ không bị nêu đích danh và người tiêu dùng dễ chấp nhận hơn khi đơn phương tăng giá một mình.
Từ đầu năm đến nay, chúng tôi chỉ mới tăng giá 1 lần khoảng 7-9%. Cá nhân tôi nghĩ thế này, khi Chính phủ và cả người dân đang đặt quá nhiều lo lắng cho nền kinh tế đang suy thoái, ở vị trí của doanh nghiệp, việc kìm nén hoặc giảm lợi nhuận để giúp bình ổn thị trường, sâu xa hơn là bình ổn xã hội là điều hết sức cần thiết. Tôi nói điều này từ tâm của mình chứ không cần phải hoa mỹ gì cả, bởi khi chọn về Việt Nam, tôi chọn cống hiến.
Quan điểm của ông về nhận xét giá sữa Việt Nam được xếp vào hàng cao nhất thế giới so với mặt bằng thu nhập?
Một khảo sát của Eurocham NFG vào đầu năm nay cho thấy, giá sữa trung bình tại Việt Nam ở mức thấp nhất trong khu vực châu Á. Chẳng hạn, thấp hơn Singapore 62%, thấp hơn Indonesia 74%, thấp hơn Malaysia 32%, thấp hơn Trung Quốc đến 93% và thấp hơn Thái Lan 21%. Ở vị trí một nhà kinh doanh, tôi có quan điểm “tiền nào của nấy” để làm chìa khóa mở thị trường này. Là nhà kinh doanh giỏi, bạn hãy biết mang sản phẩm chất lượng cao, tốt đến cho người tiêu dùng. Chính họ sẽ quyết định chọn bạn hay không chứ không nên áp đặt tư duy đây là đất nước nghèo, có mức thu nhập thấp, chỉ phù hợp sản phẩm hạng trung, kém chất lượng và có giá thấp mới thành công. Đó là tư duy đã lỗi thời và cảm tính.
Vài nét về Tiến sĩ Chris Quach
Tiến sĩ Chris Quach du học sang Mỹ năm 1975 ngành tài chính. Năm 1994, ông về nước lập Công ty Dược phẩm 3A, phân phối các sản phẩm sữa của Abbott. Cũng trong năm đó, ông đã mua bản quyền ca khúc “Hát về cây lúa hôm nay” của nhạc sĩ Hoàng Vân và chọn câu: “Tình yêu bắt đầu từ đôi mắt. Ngày mai bắt đầu từ hôm nay” để làm slogan cho nhãn sữa của Công ty hoặc nhạc nền tại các buổi hội thảo của Công ty tại Việt Nam. Tuy là nhà kinh doanh, nhưng ông Chris Quach am tường nhiều dòng nhạc cổ và hiện đại, triết học phương Đông và văn hóa Việt. Chính điều đó, ông rút ngắn khoảng cách tuổi tác khi trò chuyện với người nhỏ tuổi và nhân viên của mình.
Thêm một ý nữa, chất lượng sản phẩm liên quan đến sức khỏe con người ở Mỹ phải được chứng nhận lâm sàn rất khắt khe trước khi được cấp giấy phép. Nhiều người thường gắn cái danh sữa ngoại với giá cao, nhưng tôi quan niệm, tiền nào của nấy. Không phải tự nhiên mà mỗi năm, tập đoàn chúng tôi đầu tư 2-3 tỉ USD để làm nghiên cứu và phát triển.
Ngoài việc kinh doanh, ông vẫn còn tham gia giảng dạy tại các trường đại học trong 15 năm qua?
(Cười) À, chuyện này cũng bình thường với một số trí thức Việt kiều. Tôi tham gia giảng dạy môn quản trị kinh doanh quốc tế, tài chính quốc tế cho lớp cao học và chiến lược marketing cho sinh viên năm thứ tư Đại học Kinh tế và Đại học Quốc tế TP.HCM, Hoa Sen... từ 15 năm qua. Điều tôi muốn được làm khi trở về là chia sẻ kiến thức kinh nghiệm của mình thật nhiều hơn với lớp trẻ, những bạn sinh viên chưa có điều kiện ra nước ngoài học chiến lược tiếp thị và quản trị học của thế giới.
Ông gốc là người Hoa, khi còn ở Mỹ, ông có bao giờ chọn lựa giữa Trung Quốc và Việt Nam trong ngày trở về?
Tôi sinh ra và lớn lên tại Việt Nam. Tôi uống nguồn sữa của mẹ Việt Nam, tôi ăn hạt gạo đầu đời cũng được trồng trên đất mẹ Việt Nam. Tôi nói vậy, bạn sẽ cho rằng tôi hơi “sến” phải không? Nhưng tất cả đó là sự thật và với quốc gia này, tôi thấy mình còn nợ nhiều. Đi dạy coi như việc trả nợ quê nhà và cho đến lúc này, tôi nghĩ mình vẫn còn nợ nần quê mẹ nhiều lắm. Hơn nữa, trong 3 yếu tố để dẫn đến thành công là “thiên thời địa lợi nhân hòa”, nếu không về Việt Nam, tôi sẽ thiếu yếu tố “nhân hòa” để thành công.

Chia sẻ cùng bạn về cửa hẹp khó lách

Còn theo văn phòng Thương vụ Đại sứ quán Việt Nam tại Bangkok, đến thời điểm này, đã có một số công ty và DN Việt Nam đầu tư, mở văn phòng đại diện tại Thái Lan. Một số DN có thể điểm mặt như Hoàng Anh Gia Lai, Thiên Long, Trung Nguyên đã đưa sản phẩm, thậm chí là mở văn phòng đại diện tại nước này.
Trong khi hàng Thái Lan tràn ngập Việt Nam thì cơ hội cho Việt Nam ở chiều ngược lại rất hiếm hoi. Bởi vì, dù kim ngạch xuất khẩu có tăng nhưng hàng của Việt Nam qua Thái chủ yếu chỉ là hàng thô, nguyên nhiên liệu sản xuất nên việc tìm được chỗ đứng cho DN ở thị trường này là hết sức khó khăn.
Nghịch lý tăng trưởng
Theo thống kê của Trung tâm Thông tin và Công nghệ Truyền thông thuộc Bộ Thương mại Chính phủ Hoàng gia Thái Lan, kim ngạch thương mại giữa Thái Lan và Việt Nam trong 9 tháng đầu năm nay là 7.048 triệu USD, tăng 37,22% so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong đó, xuất khẩu từ Thái Lan đạt 5.504 triệu USD (tăng 33,79%) và nhập khẩu từ Việt Nam đạt 1.544 triệu USD (tăng 51%).
Trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng mạnh. Nếu như năm 2009, tổng trị giá hàng Việt Nam xuất khẩu sang Thái đạt 1.385 triệu USD thì đến 2010 đã tăng lên 1.400 triệu USD và năm 2011 dự kiến sẽ đạt mức 2.000 triệu USD.
Hiện Việt Nam được xếp thứ 5 trong số các quốc gia ASEAN xuất khẩu sang Thái và đứng đầu về mức tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường Thái. Trong 9 tháng đầu năm nay, mức tăng trưởng hàng xuất khẩu của Việt Nam vào Thái đạt 51%.
Còn theo văn phòng Thương vụ Đại sứ quán Việt Nam tại Bangkok, đến thời điểm này, đã có một số công ty và DN Việt Nam đầu tư, mở văn phòng đại diện tại Thái Lan. Một số DN có thể điểm mặt như Hoàng Anh Gia Lai, Thiên Long, Trung Nguyên đã đưa sản phẩm, thậm chí là mở văn phòng đại diện tại nước này.
Tuy nhiên, số lượng những DN xuất hiện tại Thái đã tăng lên nhưng đa phần sản phẩm xuất khẩu theo dạng hàng thô, nguyên liệu sản xuất là chính. Các mặt hàng chính Việt Nam xuất sang Thái Lan, gồm dầu thô, than đá, cao su, xăng dầu, sắt thép, hóa chất...
Ngược lại, Việt Nam nhập khẩu của Thái Lan các mặt hàng đồ điện gia dụng, máy móc, sắt thép, hóa chất, ô tô và phụ tùng thay thế, xe máy và phụ tùng xe máy...
Vừa có chuyến làm việc tại Thái Lan hai tuần với một đối tác Anh, ông Nguyễn Đức Huệ, Giám đốc Công ty Phân phối Sao Việt lấy làm buồn vì “chẳng thấy bóng dáng của hàng Việt”.
“Trong 4 siêu thị lớn tại Bangkok mà ông khảo sát trong chuyến đi ấy không hề thấy bất cứ sản phẩm nào “made in Vietnam”. Trong khi đó, “phải công nhận rằng, sản phẩm Thái Lan có bao bì, chất lượng đẹp hơn rất nhiều so với hàng Việt”, ông Huệ khẳng định.
Không một khe hở
Lũ lụt nghiêm trọng mới diễn ra khiến nhiều ngành sản xuất tại Thái Lan đình trệ. Nhiều DN Việt Nam cũng muốn nhân hoàn cảnh này để tìm cách đưa hàng hóa Việt Nam vào Thái.
Tuy nhiên, “rất khó để chen chân” là nhận xét chung của các DN đang tìm kiếm cơ hội để đầu tư vào thị trường này. Thị trường Thái Lan tuy không lớn nhưng đã có rất nhiều tập đoàn đa quốc gia đầu tư nên sản phẩm của Việt Nam không theo kịp.
Có thể nói, trong tất cả các nước Đông Nam Á, sản phẩm của Thái Lan tốt nhất cả về chất lượng sản phẩm cho đến mẫu mã bao bì.
Bà Pranomsri SormkunNgoen - Lãnh sự Thương mại Thương vụ Tổng lãnh sự quán Thái Lan tại TP.HCM: 
Cơ hội tốt để Thái Lan làm quen với hàng hóa Việt Nam
Hiện nay, cảng Klong Toey (Bangkok) đã ngừng dịch vụ vận chuyển hàng hóa nhập khẩu từ ngày 25/10 và vẫn chưa có thông báo khi nào sẽ mở cửa tiếp nhận hàng hóa trở lại. Tình hình lũ lụt ở nhiều nơi, kể cả miền Trung và Bangkok, làm cho các doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa theo hình thức container không thể lấy hàng được và hàng hóa hiện đang bị kẹt ở cảng lên đến 10.000 TEU trên tổng số lượng hàng hóa có thể chứa là 11.500 TEU. Ngoài ra, lũ lụt tại Campuchia và Thái Lan cũng khiến cho việc giao thông vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ khó khăn và gián đoạn, do vậy có khả năng các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan theo container đường biển hay bằng xe tải sẽ gặp khó khăn trong giai đoạn hiện nay.
Lũ lụt làm cho Thái Lan bị khan hiếm các mặt hàng nhu yếu phẩm như nước uống, trứng, cá hộp, giấy vệ sinh và thuốc trị bệnh. Trong tình hình khẩn cấp, giải pháp nhập khẩu hàng chủ yếu từ Malaysia là tốt nhất vì Thái Lan và Malaysia có biên giới chung và có mức thuế nhập khẩu nhiều mặt hàng là 0%. Sau khi nước lũ rút, nhu cầu về các mặt hàng vật liệu xây dựng, sửa chữa nhà cửa bị hư hại sẽ tăng lên, những mặt hàng xa xỉ sẽ giảm xuống vì người dân bị thiệt hại do lũ muốn dùng tiền để phòng lũ lụt và sửa chữa những phần bị hư hại. Nhưng nhu cầu của những mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống chắc vẫn sẽ cao. Những mặt hàng cần thiết lúc đó là nước uống, thực phẩm đóng hộp, trứng gia cầm, mì ăn liền, cá hộp, muối, thuốc và dược phẩm, giống gia cầm - gia súc, giấy vệ sinh, máy bơm nước.
Theo ông Huệ, hiện nay, tại Thái cũng đã có một vài công ty Việt Nam đặt văn phòng đại diện tại Thái. Tuy nhiên, sản phẩm chỉ có thể tiếp cận nhỏ, lẻ ở kênh truyền thống.
Trong khi đó, thế mạnh của hệ thống phân phối của nước này nằm ở kênh hiện đại. Tại Bangkok, 70% doanh thu ngành bán lẻ đều thuộc về kênh hiện đại mà cụ thể là các siêu thị và cửa hàng tiện lợi nhưng hàng Việt không vào được vì chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu của đại đa số người tiêu dùng nước này.
Cùng quan điểm này, ông Trịnh Chí Cường, Tổng giám đốc Công ty Đại Đồng Tiến, cho rằng, thị trường Thái Lan đi trước Việt Nam khá xa.
Hiện nay, dân trí tuy không cao hơn Việt Nam nhưng nhận thức về thương hiệu của họ rất tốt nên những thương hiệu của Việt Nam rất khó để chen chân.
Khai thác thì trường này phải làm theo cách của người có tiền, bài bản và chiến lược. Gần đây, các DN xuất khẩu cho các nước châu Âu, Mỹ đang chậm lại nên quay lại thị trường gần như Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia...
Còn theo ông Phạm Xuân Hồng, Tổng giám đốc Công ty May Sài Gòn 3, thị trường may mặc của Thái dường như không chấp nhận hàng Việt vì ngành may mặc của họ quá mạnh.
Người tiêu dùng Thái hoặc là dùng đồ hiệu hoặc là dùng hàng trong nước sản xuất. “Hàng Việt Nam hiện nay không thể cạnh tranh được với hàng Thái từ chất liệu, kiểu dáng cho đến giá cả...
Với hàng bình dân, DN không thể cạnh tranh với hàng Trung Quốc trên đất Thái còn hàng cao cấp thì cũng khó trụ được bởi hàng hiệu bán đầy rẫy ở đây.
Trong khi đó, hàng Việt Nam gọi là cao cấp nhưng cũng chưa là gì so với các nước. Nếu bán giá cao thì không ai mua còn bán giá thấp chỉ có nước lỗ”, ông Hồng nói. Đó là lý do, dù đã đưa hàng xuất đi các nước từ Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Nhật... nhiều năm nay nhưng Sài Gòn 3 vẫn chưa thể tiếp cận thị trường Thái Lan.
Cũng như Sài Gòn 3, ông Võ Văn Đức Bảy, Giám đốc Công ty Nhựa Chợ Lớn, thú nhận đã nghiên cứu, khảo sát thị trường Thái Lan khá kỹ nhưng vẫn chưa thể đưa hàng vào nước này.
Lý do mà Nhựa Chợ Lớn không thể đưa hàng vào thị trường này vì “hàng hóa của họ khá tốt. Hơn nữa, nguồn cung trong nước của Thái lan dường như đã đủ cho nhu cầu tiêu dùng của họ”, ông Bảy nhận xét.
Có lẽ, những yếu tố trên cũng là nguyên nhân kiến dự án thâm nhập thị trường Thái Lan của Tổng công ty May Việt Tiến vẫn chưa thực hiện được.
Năm 2009, khi đưa hàng vào thị trường Campuchia, Công ty Việt Tiến đã công bố sẽ tiếp tục tiến vào thị trường các nứơc ASEAN như Lào, Thái Lan, Myanma, Malaysia, Sigapore... rồi sau đó đến Trung Quốc.
Thế nhưng, thị trường Lào và Campuchia đã có tổng đại lý của DN này và thị trường Trung Quốc cũng đã khai thác thì đến nay, sau hai năm triển khai, thị trường Thái Lan “vẫn đang tiến hành” như lời ông Phan Văn Kiệt, Phó tổng giám đốc Tổng công ty May Việt Tiến, cho biết. Trong khi đó, thị trường Trung Quốc đã được DN này khai thác.
Ông Bảy cho rằng, trong thời điểm này, việc đưa hàng vào Thái dễ hơn vì hàng hóa khan hiếm do nhiều nhà máy đóng cửa do lũ lụt nhưng chỉ là đường ngắn hạn. Kinh doanh thì phải tính đường dài, phải có chiến lược bài bản cộng với việc nâng cao chất lượng sản phẩm. 
Bà Pranomsri Sormkun Ngoen, Lãnh sự Thương mại Văn phòng Thương vụ Tổng lãnh sự quán Hoàng gia Thái Lan tại TP.HCM, cho biết, lũ lụt làm cho Thái Lan bị khan hiếm các mặt hàng nhu yếu phẩm như nước uống, trứng, cá hộp, giấy vệ sinh và thuốc trị bệnh.
Những mặt hàng cần thiết lúc đó là nước uống, thực phẩm đóng hộp, trứng gia cầm, mì ăn liền, cá hộp, muối, thuốc và dược phẩm, giống gia cầm - gia súc, giấy vệ sinh, máy bơm nước.
Các DN Việt Nam muốn tăng cường xuất khẩu sang Thái Lan cần thông qua Văn phòng Thương vụ Đại sứ quán Việt Nam tại Bangkok để tìm hiểu về các DN kinh doanh nhập khẩu và phân phối tại Thái có nhu cầu nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam hoặc có thể đưa thông tin quảng cáo của mình trên trang web: www.thaitrade.com.
Để thâm nhập tốt vào thị trường Thái, lời khuyên cho các DN Việt Nam nên tập trung vào hệ thống phân phối bằng cách tham gia hội chợ thương mại tại Thái và quảng bá những sản phẩm của DN đến các nhà phân phối.
Tập hợp nhóm những mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh, thuê những gian hàng tại siêu thị để trưng bày và quảng bá sản phẩm cũng là cách tốt nhất để người tiêu dùng Thái biết đến hàng Việt Nam.